Báo cáo tìm mộ liệt sĩ Trần Minh Long – hiệu đính – có ảnh


BÁO CÁO TÌM MỘ LIỆT SĨ BẰNG PHƯƠNG PHÁP ÁP VONG

Tại Liên Hiệp Khoa học Công nghệ – Tin học Ứng dụng UIA   phối hợp với Viện Khoa học Hình Sự – Bộ Công An và Trung Tâm Bảo Trợ Văn hóa Truyền Thống  (RCTCT) tại số 1 Đông Tác, khu Kim Liên, Hà Nội

 

Mộ liệt sĩ Trần Minh Long sau 42 năm “chưa biết tên”.

 

Tác giả bài viết: Trần Thị Tú Linh

Hiệu đính: Hồ Thị Anh Tú [i]

Hà Nội, tháng 03 năm 2010

 

 

 

Kính gửi: Ban chủ nhiệm chương trình khảo nghiệm khoa học về các khả năng đặc biệt

Liên Hiệp Khoa học Công nghệ – Tin học Ứng dụng UIA   phối hợp với Viện                   Khoa học Hình Sự – Bộ Công An và Trung Tâm Bảo Trợ Văn hóa Truyền Thống  (RCTCT) tại số 1 Đông Tác, khu Kim Liên, Hà Nội

 

Hà Nội, ngày 22 tháng 03 năm 2010

 

Tôi tên là Trần Thị Tú Linh, là cháu nội của Liệt sĩ Trần Minh Long, giảng viên trường Đại học Hà Nội. Vào ngày 2/03/2010 (Dương Lịch) tôi đã xin đăng ký áp vong tại Liên hiệp Khoa học Công nghệ – Ti học ứng dụng UIA, Viện khoa học Hình sự – Bộ Công An và Trung tâm văn hóa truyền thông RCTCT tại số 1 Đông Tác, khu Kim Liên, Hà Nội. Sau hai tuần kể từ ngày đăng ký Áp vong tại số 1 Đông tác, khu Kim Liên, Hà Nội, tôi và gia đình đã tìm được mộ ông nội tôi là liệt sĩ Trần Minh Long tại nghĩa trang Liệt sĩ tại thôn Thái Xuân, xã Nhơn Hạnh, huyện An Nhơn, Tỉnh Bình Định. Ngay sau khi trở về Hà Nội vào lúc 5 giờ sáng,ngày 22, tháng 03, năm 2010  tôi đã đến cảm tạ ban Tam Bảo, hội đồng hương linh các liệt sĩ và theo lời dặn dò của bác giám đốc trung tâm vào ngày gia đình tôi áp vong ( 7/03/2010) là sau khi tìm mộ liệt sĩ  thì cần gia đình báo cáo lại kết quả để chứng thực việc tìm mộ liệt sĩ bằng phương pháp áp vong. Hơn nữa, đây cũng là cách mà gia đình trả ơn hội đồng tâm linh các liệt sĩ đã phù hộ, độ trì cho gia đình tôi tìm được mộ ông nội tôi và để các gia đình có hương linh liệt sĩ chưa biết tên, thất lạc thêm niềm tin để đi tìm những người thân, những người đã ngã xuống cho con cháu, những người sống hôm nay được hưởng bầu trời tự do.

Như lời bác giám đốc trung tâm nói, gia đình tôi tìm nhanh được như vậy là nhà có phước đồng thời được hội đồng hương linh các liệt sĩ phù hộ. Đây là trường hợp tìm được bằng phương pháp áp vong, dựa vào niềm tin và mối quan hệ của gia đình, bên cạnh sự phù hộ của Trời , Phật, hội đồng hương linh các liệt sĩ, còn có sự phù hộ của Cửu huyền Thất tổ gia tiên dòng họ, do vậy, tôi  xin phép báo cáo lại hành trình tìm mộ ông nội tôi theo văn phong với cảm xúc, suy nghĩ thật, chân thành nhất của mình để chia sẻ trải nghiệm tìm mộ người thân, rút kinh nghiệm cho các gia đình liệt sĩ thành tâm, tin tưởng vào việc tìm mộ ngươi thân, đặc biệt là các liệt sĩ. Trong lời văn,lúc thì sử dụng từ Bắc, lúc từ miền Nam Trung Bộ do nhiều thành viên trong gia đình, gốc miền Nam Trung Bộ nhưng sống, làm việc, sinh ra và lớn lên trên đất Bắc nên sử dụng ngôn từ linh hoạt và trong ngữ cảnh lúc Bắc, lúc Nam Trung Bộ. Nếu không đúng với cách hành văn báo cáo thì mong ban chủ nhiệm thông cảm và chỉ bảo.  Tôi cam đoan các thông tin viết dưới đây là sự thật nhằm mục đích chia sẻ để thân nhân các gia đình liệt sĩ có thêm kinh nghiệm đi tìm mộ người thân và là lời cảm tạ của gia đình liệt sĩ Trần Minh Long tới hội đồng tâm linh các liệt sĩ đã phù hộ.

Tôi và gia đình, một lần nữa, xin chân thành cảm ơn ban Tam Bảo, hội đồng hương linh các liệt sĩ và Ban chủ nhiệm chương trình khảo nghiệm khoa học về các khả năng đặc biệt của Liên hiệp khoa học công nghệ, tin học ứng dụng UIA.

Dù chưa một lần gặp mặt nội, hình ảnh nội chỉ qua tấm hình này, trên bằng Tổ Quốc Ghi Công, trên ban thờ gia tiên nhưng ngay từ bé, tôi luôn tin ông Nội vẫn ở đâu đó phù hộ cho đứa cháu gái vì lần nào tôi làm mất vật gì, khấn Nội tìm giúp, tôi cũng tìm được. Và những câu chuyện về Nội qua lời ba tôi kể. Ba tôi theo Nội từ hồi còn 6 tuổi, tập kết ra Bắc. Ông Nội học làm bác sĩ rồi đi B, còn ba tôi thì sống, lớn lên tại trường Cầu Rào, trường học sinh miền Nam. Ngôi trường nổi tiếng đến mức, dân địa phương, Hải Phòng, còn nể sợ. Họ sợ vì lũ học sinh ây, đầu trọc, đứa nào cũng như đứa nào, lỳ lợm,  nghịch ngợm, giỏi đánh nhau và đoàn kết như một gia đình. Đứa lớp bé đói, đứa lớp lớn dẫn ra khỏi trường, vô quán phở ăn, rồi cho tụi bé về trước, tụi lớn bùng, chạy sau, chịu đòn gánh phang hụt của các ông chủ quán phở. Tụi nhỏ mà vô chợ, đi ngang qua hàng nào là hàng đó vơi. Túi áo đứa nào cũng lớp lớp túi, thó cá khô nhanh như chảo chớp. Toàn con trai ở với nhau, có đứa nào chị gái, chị họ vô thăm cho tiền là giấu sợ bị chọc quê là không đàn ông, có chị vô thăm. Đến bữa ăn, đứa nào ăn không kịp là cơm, thức ăn hết liền.  Ba tôi là một trong những học sinh của con em cán bộ, chiến sĩ tập kết ra Bắc như thế. Thêm chất dũng khí của miền đất võ, Bình Định, như ăn vào máu nên ba tôi chẳng sợ ai, gan lỳ và bướng. Chỉ có ông Nội tôi là ba tôi sợ nhất. Sợ vì lỳ ông đánh, những cú cốc đầu chỉ có dân miền võ mới có, học không ra gì, đến kỳ nghỉ hè về Hà Nội với ông, ông cho đòn. Nghịch không thấu, ông cho lên ở với ông Hai (cậu Hai ba tôi) cải tạo. Và ba tôi sợ nhất là đến bữa cơm, Nội kể các ca mổ mà Nội có dịp phụ ông Tôn Thất Tùng. Đến khi lớn cứ nhắc tới bệnh viện là ba sợ. Và trong ký ức ba tôi, Nội nổi tiếng chiều cháu gái, quý và mềm mỏng với phái nữ. Cô Năm Nghị, chị họ ba tôi được ông cưng, hàng xóm là các bé gái, ông cũng cưng chiều. Ông ghét tụi con trai nghịch ngợm, bướng bỉnh, do thế ba tôi càng nem nép sợ Nội tôi, thầm ghen tị cái bọn con gái, chẳng phải họ hàng gì cũng được Nội trìu mến cõng lên cổ.  Cũng có thể vì lý do đó mà tôi có niềm tin là Nội ở đâu đó, quanh tôi và cũng chính vì lý do đó mà ba tôi sợ đối diện với Nội ở bất cứ hình thức nào. Việc đi tìm mộ, gia đình đã giục ba nhiều, từ vợ con, đến cô Sáu Hạnh (em gái ba tôi) nhưng ba tôi nói đã từng tìm Nội rồi. Sau giải phóng bà Nội tìm, ba tôi đi tìm nhưng thông tin trái chiều, người thì nói ông Nội do cứu bạn, quay trở lại cõng bạn nên vào đúng tầm bom rơi, mất xác. Người thì nói năm Mậu Thân, xác cộng sản nhiều xương trắng đầy núi, bọn ngụy vứt xác xuống biển. Ngay cả khi bà Nội tôi còn sống, Nội kể, Nội giả đò gánh hàng qua đám xác cộng sản, giả đò rớt đồ lật tìm mà không thấy xác ông Nội. Thời gia qua đi, phần vì tận tâm với công việc, phần có lần đã đăng ký ở Đông Tác nhưng lại được chỉ sang một ông thầy khác, phần vì được đào tạo ở nước ngoài nên ba tôi không tin lắm chuyện tâm linh, phần là sợ ông Nội uýnh , và thông tin Nội trên thì bom Mĩ rơi, dưới PakChungHy càn, nổ banh xác nên ba tôi đã lâu không tìm Nội nữa. . Thêm vào đó, cả nhà tôi phần lớn đều được đào tạo theo hướng khoa học nên luôn nghĩ mất xác là mất hết, không hề biết chuyện mất xác là còn linh hồn nên thông tin ông Nội mất xác là hết hy vọng tìm kiếm. Nhưng không hiểu sao tôi vẫn tin, phải đi tìm mới biết được chứ chỉ nghe thông tin không sao được. Nhiều lần thuyết phục ba nhưng ba tôi phần vì thông tin đó, phần lớn nhất là sợ ông Nội khủng khiếp nên lần chần. Đến khi ba tôi về hưu thì không thể vì bận công tác được nữa, và ba cũng yếu hơn xưa nhiều. Trong gia đình thì ba tôi là người gần ông Nội nhất, theo Nội tập kết ra Bắc từ nhỏ chứ chú ba Khoa thì mất từ bé, chú Tư Tài ở lại với bà Nội nên sợi dây gần với ông Nội nhất là ba tôi. Cho dù không tìm được nhưng chí ít mình đã thử, đã gắng công, nghĩ vậy tôi quyết kiểu gì cũng phải tìm.

Duyên nợ sao đó mà ngày đi chùa Phúc Khánh sau Tết cùng đồng nghiệp, và cũng là hai cô giáo cũ của tôi. . Cô V.A  là người giỏi về kế toán với con số, là người có thể nói là công bằng và ít ai nghĩ cô sẽ tin vào chuyện tâm linh như cầu hồn. Đi chùa, vô tình chuyện nọ tới chuyện kia, cô bảo “em đi áp vong chưa?” Ở Đông Tác ấy mà nhà cô không gọi hồn được. Ở Đông Tác, em có thể mua một sản phẩm của Amway để người ta xếp chỗ cho. Về sau, cô VA nói  nhà cô tìm được mộ do tới cô Dũng là một “cô” đồng ở Nguyễn Thái Học. Tôi lập tức đi tìm thì gia đình nhà “cô” Dũng nói là hết  tháng 3 âm mới tìm được. Sau đó, chat với đồng nghiệp cũ, là nhà báo, anh nói “ em đến Đông Tác chưa?” “e có nghe”. Tôi lừng khừng tới Đông Tác vì nhà cô V.A không tìm được nhưng chat với anh bạn nhà báo xong, tôi lại muốn thử tìm cơ hội ở Đông Tác. Vào Đông Tác, mọi thứ bề ngoài nhìn không có gì là hoành tráng cả, lại năm giữa khu chợ. Bước vào trong, mọi người xếp hàng, thấy cứ sao sao. Chỉ mỗi hòm Công Đức in ấn tài liệu cúng siêu thoát cho hương hồn Liệt sĩ làm tôi tin tưởng.  Đọc tờ thông báo là phải có bằng Tổ Quốc Ghi Công mới được xếp hàng. Tôi trở về và đầu giờ chiều đến. Tôi đến, rất vắng, nghe mấy chị hướng dẫn từ việc nộp bản sao giấy chứng nhận Tổ Quốc Ghi Công của Nội tới hoàn toàn tự nguyện mua sản phẩm Amway. Tôi mua loại nhiều tiền nhất không suy nghĩ, đắn đo vì tôi nghĩ, dù tổ chức từ thiện nào người ta cũng cần kinh phí để hỗ trợ làm công tác từ thiện huống hồ đây là tổ chức giúp tìm mộ liệt sĩ. Dù được hay không thì khi mua sản phẩm Amway cũng là cách thức khác tôi bỏ vào hòm Công Đức tìm mộ Liệt sĩ, mà ông Nội tôi cũng nằm trong đó. Ngày thứ ba, mùng 2 tháng 3 năm 2010 đi đăng ký Áp vong thì gia đình tôi được thu xếp áp vong vào ngày chủ nhật, mùng 7/3/2010. Ở tờ hướng dẫn thì có nói cần 4 -7 người là người trong gia đình để áp vong. Nhà tôi ít người, có 3 thôi, tôi trình bày với chị hướng dẫn. Chị ý nói “ vậy chị cố gắng thu xếp, cùng lắm là lên xin các cô cho phép, mà tốt hơn là nên từ 4 người vì không thì không hiệu quả. Chị có muốn xác nhận là áp vong vào ngày chủ nhật này nữa không?”. “ Dạ có”. Trở về nhà, tôi sẽ thuyết phục mẹ đầu tiên rồi đến ba. Lôi thằng Chánh (đích tôn họ Trần, con chú Tư Tài) từ Nha Trang ra. Tôi lăn tăn. Thằng quỷ 40 tuổi  ấy nó có tin chuyện vong hồn bao giờ. Giờ bắt nó bỏ công việc ra Hà Nội, nhỡ chẳng được gì đi về thì cũng tội nghiệp nó. Nó còn 3 thằng con phải bươn chải. Và cái khó là nó chả bao giờ tin chuyện tâm linh. Về alo cho cô V.A thì cô nói “sao nhanh thế, hiệu quả thế? Bình thường người ta mất 06 tháng để được ngày đăng ký đấy em.”  Cũng may là mẹ hoàn toàn ủng hộ tôi và chính mẹ nói phải lôi thằng Hai Chánh ra. Lên nói với ba, không hiểu sao, lần này ba lại gật đầu nhanh thế. Tôi gọi cô Sáu Hạnh để bàn chuyện.Cô Sáu Hạnh là em gái cùng mẹ khác cha với ba tôi.  Cô Sáu ở Bình Định gọi về Nha Trang cái rẹc, thằng Chánh ấm ớ mà rồi cũng đồng ý thu xếp ra một chuyến. “Chi phí bác Hai mày lo, mày ra cho tao, ra ngay cho kịp ngày thứ bẩy cúng ở nhà, ngày chủ nhật đi áp vong a nha.” Tôi thúc giục đứa em họ. Ở trong nhà ba tôi là to nhất, bác Hai mà, nói một câu là em dâu và các cháu nghe lắp tự. Vốn tính chu đáo, mẹ lo mọi thứ cúng kiếng và dặn dò tôi đi tìm, đi hỏi các câu khấn, hỏi cô VA kinh nghiệm đã từng cùng gia đình đi Áp Vong ở Đông Tác. Cô chia sẻ là do nhà cô không biết nên lại khấn gia tiên trước chứ đúng ra là phải khấn Ban Tam Bảo, thần linh, thổ địa, bà Tổ Cô rồi tới Cửu huyền Thất Tổ gia tiên dòng họ do bà Tổ Cô là người quản lý các vong hồn của dòng họ. Rồi tôi cũng gọi điện cho vài người bạn để hỏi thăm cách khấn cho phải phép. Nhà tôi có bao giờ biết khấn đâu, chỉ phát tâm mà khấn chứ chưa biết khấn cho bài bản.  Duyên sự thế nào, chú Thạch là bạn ba tôi, đồng hương và là người cùng chuyến đi với ba tôi, chú cũng theo ba chú tập kết ra Bắc, sau bao nhiêu năm bặt tin, gọi điện và đến nhà. Ba tôi có khoe là năm 2007, có xin được bộ ảnh và tư liệu của ông Nội do Trung tâm Lưu Trữ Quốc Gia ở đường Đào Tấn, Hà Nội. May là nhà nước giữ giùm chứ ngay cả gia đình cũng không thể giữ được chất lượng ảnh đẹp và mới như vậy.  Sau bao nhiêu năm, bộ ảnh, kỷ vật của Nội, và đồng chí trước lúc Nội đi B vẫn còn nguyên vẹn, đẹp. Chú Thạch nói “ cứ mang kỷ vật của Nội theo.” Mẹ tôi hỏi thêm “ thế nhỡ mất mộ, bị bom rơi như vậy thì sao?”.  “ Thì vong về sẽ báo”. Chú Thạch khẳng định do chú cũng đã tìm được mộ ba chú. Rồi một người bạn tôi cũng khẳng định “ như mộ bác tớ, muốn ở lại trong Nam, cũng bao cho gia đình là mình muốn ở lại trong Nam.” Thứ bẩy, gia đình tôi khấn  theo tờ giấy hướng dẫn của trung tâm tại Đông Tác và theo trình tự nhất lạy chín phương Trời, lạy mười phương Phật, lạy thần linh, thổ địa nơi gia đình đang sống, lạy bà Tổ Cô, lạy Cửu huyền Thất tổ gia tiên dòng họ, lạy ông Mãnh.

Đến sáng chủ nhật, nhà tôi đến từ sớm tại Đông Tác, mang theo kỷ vật của Nội, giấy chứng nhận Tổ Quốc Ghi Công, Huân Chương, giấy Báo Tử , tờ hướng dẫn của Đông Tác.

Di ảnh Nội tôi ( Liệt Sĩ Trần Minh Long) trước lúc đi B.

Liệt Sĩ Trần Minh Long ( ảnh Nội tôi trước khi đi B)

Nội tôi giữ ảnh cha mình là ông Cố Cử.

Bà Nội và chú Tư Tài

Ông Nội và ba tôi

Ông Nội tôi và đồng đội.

Nội và đồng nghiệp

Nội, ba tôi và đồng nghiệp.

Lúc đi, gia đình nghĩ là sẽ thông qua một nhà ngoại cảm, hoặc một “cô”, “cậu” nào đó nói chuyện giúp với vong hồn. Đến nơi làm theo giấy hướng dẫn của Đông Tác, mẹ và tôi lên cúng trên ban Tam Bảo tại tầng cao nhất, rồi cả nhà xuống phòng dưới chờ áp vong. Nhìn ở phòng áp vong chỉ định là một loạt chiếu ngồi, trên có ban thờ Phật. Các gia đình ngồi xếp vòng tròn theo sư chỉ dẫn của cán bộ tại Đông Tác. Rồi gia đình viết tên những người mình muốn mời lên giao lưu trên tờ giấy vàng Công Đức do gia đình tự nguyện đóng góp. Lúc đầu nhà tôi hoang mang vì không biết làm thế nào, lại chẳng nhớ tên các cụ từ xưa cho đủ 7 người như lời cán bộ hướng dẫn, chỉ nhớ tới ông cố là ông Nội của ba tôi. Rồi dần dần mọi người nhớ ra,  viết tên những người gần gũi nhất trong nhà. Trước là bà Tổ Cô, rồi ông cố Trần Cử, bà cố Nhì, ông Nội Long, bà Nội Thành, chú ba Khoa và chú tư Tài. Rồi 4 người trong gia đình ngồi khoanh chân, nhắm mắt, tay để mở, để khuyết giống Phật rồi khấn. Trong tờ hướng dẫn của Đông Tác ghi rõ là người nhà mình phải khấn là tình nguyện cho hương linh mượn xác. Tôi khấn liền.  Tập trung nhưng loáng thoáng nghe thấy tiếng cô cán bộ nói “ nhà ngồi gần cửa, vong về kìa.”  Thêm vài phút tôi khấn, tôi thấy lung linh, giống như bị hoa mắt, thấy người hơi khác, hai đuôi mắt nháy nháy liên hồi, người hơi chao. Cô cán bộ nói “ vong về, vong về kìa, chào cụ đi.” Cô cán bộ vỗ vỗ nhẹ vào người tôi.   Người nhà tôi mở mắt, ú ớ vì đây là lần đầu tiên nhà tôi đi áp vong, và lần đầu tiên biết vong linh có tồn tại. Không kịp nói gì thì cô cán bộ nói “ chào cụ đi, nhà mình nhanh mồm, nhanh miệng lên nào.”  Mẹ tôi vội vã “ dạ ba Long ạ? “  Tôi choàng tỉnh, mở mắt. Cô cán bộ nói “ Bà Tổ Cô về đấy, chào bà Tổ Cô đi. “. Do cả nhà ngồi xếp bằng, tập trung tư tưởng và chưa biết thế nào nên không ai kịp làm gì cả. “ Vong đi mất rồi.”  Các cô cán bộ nói.

Tôi khấn tiếp, lại cảm giác mắt nháy cực mạnh, người bị dựng đứng lên, tôi đập vào tay mẹ để gọi cho mẹ mở mắt. Cô cán bộ lại nhắc” chào cụ đi, nhanh miệng nào, hỏi đi, hỏi để cụ gật hoặc lắc đi nào.” Mẹ tôi chồm lấy tay tôi “ dạ ba Long về có phải không ạ, đúng thì ba gật, không phải thì ba lắc đầu ạ?”.  Cụ lắc đầu. “ Dạ ông cố Trần Cử ạ?”  Cụ gật “ Ừ”. “ Con chào nội.” Mẹ tôi chào. “Con chào cố.” Thằng Chánh, em họ tôi chào. “Ừ”. Tiếng của Cố. Rồi Cố quay sang trái thấy ba tôi. Cố nói “ mày thấy tao mày không chào phải không Năng?”.  Vừa nói Nội vừa cốc vào đầu ba tôi. “Nội”. Ba tôi sợ quá chỉ kịp thốt lên một tiếng. “Mầy chào tao như vậy mầy?” Bốp bốp, Cố uýnh bằng những cú cốc thiệt mạnh vào đầu ba tôi. “ dạ con chào ông Nội.” Ba tôi thưa mà vẫn chưa kịp hoàn hồn. “Ừ”. “ Nội có gặp ba Long hay biết mộ ba Long ở đâu không, chỉ giúp tụi con ạ?” Mẹ tôi hỏi thăm. “ Thằng Long hả, thằng Long hả?” rồi cố bật khóc nức nở. “tao không có gặp.” Quay sang phía ba tôi, cố nói “ mày đi tìm thằng Long về đây cho tao.”  “ Long ơi, con ở đâu, về đi con.”

Lúc Cố nhập,  tôi cảm giác sức mạnh và sự cục tính của cố khi đánh ba tôi. Tôi hoàn toàn nghe được đoạn thoại mà không điều khiển được hành vi của mình. Mọi người nói lúc đó dáng tôi ngồi rất oai vệ vì hồi còn sống, cố tôi dáng rất to cao. Tiếp đó là chú ba Khoa nhập vào tôi với giọng nói rất trẻ con. Chú là ông Mãnh vì chú mất từ hồi có 7 tháng tuổi. Nhà tôi chỉ mục đích duy nhất là tìm mộ ông Nội, nên ai lên cũng chỉ hỏi câu hỏi “ có biết mộ ba Long ở đâu không, chỉ giùm.” “Không biết làm sao mà chỉ “ rồi chú ba Khoa quay sang ba tôi “  anh Hai tìm mộ ba đi anh Hai.” Rồi chú ba Khoa đi mất. Tiếp đó là ông Nội tôi. Mọi người vào và đi tôi đều biết cả. Đoạn thoại của các hương linh, tôi nghe được tới 70%.  Nội lên và gật đầu khi mẹ tôi hỏi có phải Nội không. Đúng như tính cách Nội khi xưa, Nội nói chuyện với mẹ tôi rất hiền từ, còn với cháu trai và ba tôi, Nội rất nghiêm khắc. “Ba mất ở núi Bà, Bình Định phải không ba?” Nội gật. “  Mộ Ba ở nhà dân phải không ba? “. Nội gật. “Ba ở nghĩa trang phải không ba?”. Nội gật. Mẹ tôi hỏi lại cho chắc ăn” ba ở nghĩa trang liệt sĩ  phải không ba?” Nội gật mạnh. “Thế mộ ba ở huyện  Phù Cát phải không ạ? “ Nội lắc. “Mộ ba có phải ở huyện  Hoài Nhơn ạ?” Lắc đầu. “ Ở Tuy Phước  phải không  ạ?”. Mẹ tôi liên tiếp hỏi những địa danh ở Bình Định mà mẹ tôi biết. Nội lắc.  “ Ba có biết cô Thu y tá không? “ Nội gật. “Cô Thu có biết mộ của ba không?  “. (Cô Thu chính là bà Nguyễn Thị Thu, là đồng đội và là người  viết giấy báo tử cho bà Nội tôi khi chiến tranh kết thúc.) . Nội trả lời “ biết cô Thu nhưng không biết cô Thu có biết mộ ba không. Về gặp cô Thu mà hỏi. “ “Vậy  nếu tụi con tìm được mộ của ba , ba muốn tụi con đưa ba về với cố hay về nghĩa trang liệt sĩ thành phố Quy Nhơn ?” Cảm giác Nội bị bất ngờ về câu hỏi ấy. “để ba suy nghĩ đã.” Tôi cảm nhận được rất rõ lúc đó, ông Nội tôi im lặng, suy nghĩ và Nội tiếp “ chưa nghĩ tới,cứ tìm đi rồi tính”.  Mẹ tôi “ ba phù hộ chỉ đường cho đi tìm mộ ba nghe.” “Ừ” rồi Nội đi mất. Ba tôi và cu Chánh ngồi như trời trồng vì vẫn chưa hết bàng hoàng.  Mẹ tôi dựa theo thứ tự tôn ti như trên tờ giấy tôi viết vào mặt sau của tờ Công Đức tại Đông Tác. Tiếp là chú Tư Tài. Khi mất chú bị ung thư vòm họng. Cảm giác tôi lúc đó là bị đớ lưỡi và đau họng. Rồi chú quay sang ba tôi nói “ anh Hai đi tìm mộ ba đi anh Hai” chú khóc. Ba tôi nạt “ thì anh vẫn tìm mà”. Chú Tài bật khóc “ sao anh Hai la em, anh Hai toàn bắt nạt em không à”. Thằng Chánh nói đỡ “ bác Hai không có la ba, bác Hai chỉ lớn tiếng chút à.” Chú Tư khóc quay sang mẹ tôi “ hồi nhỏ anh Hai toàn đè em, đánh em không à” Rồi chú lại nhìn ba tôi  “ anh Hai hứa đi anh Hai, anh Hai đi tìm ba nha” . Ba tôi chẳng sợ, lớn giọng “ thì anh hứa, đang đi tìm mà”. Rồi chú ôm họng , kêu đau. Tôi cảm nhận thấy lưỡi mình đớ lại, vòm họng đau, chú Tư khóc “ anh Hai bỏ thuốc đi anh Hai, không lại đau giống em đó”. Chú Tư tôi là người tình cảm , dễ tính và chăm lo cho mọi người nhiều nhất.  “ Chú Tài có gặp Nội không?” Mẹ tôi hỏi. Chú gật. “Có gặp chú Khoa không? “ . Chú gật. “ có gặp ba Long không? . Chú nói “ không gặp”. “ chú Tài có biết mộ ba Long ở đâu không để chỉ giùm? “ Chú Tài mếu “ không biết. “ “ Có gặp má không? “ Chú nói “ Có”. Chánh là con chú Tài hỏi “ ba có gặp ông Tam không? “ (Ông Tam là chú họ vừa  mới mất). Chú Tài nói “ có” rồi i chú quay sang kêu đau quá. Từ lúc đó là nước mắt, nước mũi nước miếng chảy ra giống nhu hồi chú còn sống sau khi phẫu thuật vòm họng. Mẹ tôi và Chánh lật đật lấy khăn lau và bưng vòng họng cho chú. “  Thôi đau quá đừng nói, chỉ gật với lắc thôi. “ Mẹ tôi nói. Mẹ tôi lau và xoa vết đau cho chú. “ Thương quá, đau quá phải không? “ cả mẹ và Chánh cùng làm. Trong lúc mẹ tôi và Chánh xoa và lau cho chú. Chú Tư hỏi tiếp “Sáu Hạnh sao rồi? Thương Sáu Hạnh lắm.“ Mẹ tôi trả lời “ Sáu Hạnh khỏe,lên chức bà Nội rồi. “  Chú bảo “ Biết.” Chánh hỏi “ ở trên dương thế, tụi con thờ cúng có chu đáo không, có sơ suất không thì ba nói cho tụi con sửa. “ “ sắp tới giỗ ba , ba có muốn gì không để cho tụi con làm.”  Chú trả lời là “ không, sao cũng được, tao dễ mà.”  Chú tiếp “ bé Tâm sao rồi, có khỏe không? Ba thương nó lắm, nó lo cho cả nhà. “ “ Tư Tâm khỏe ba à”. Hai Chánh nói. “ Thế má mày sao rồi? “ Chú Tư hỏi con trai. “ Má bị đau ở cổ và bị đau tim, hơi khó thở. Ba phù hộ chỉ đường để tụi con tìm mộ ông Nội nhen.”  “Ừa”. Rồi chú Tư đi.

Khấn bà Nội tôi lên. “Má có khỏe không?”. Nội bảo “khỏe”. “Má có gặp ba Long không? “ Mẹ tôi hỏi. “ Không.”  Nội trả lời. Mẹ tôi” thế má có biết Nội ba Long ở đâu không?”  Bà Nội quay ngay sang phía ba tôi ngồi, vừa cúi gập người vừa khóc “ Má xin lỗi con, má đã đi bước nữa, không thể đi tìm mộ ba Long được. “ Nội vừa nói vừa khóc. Chánh hỏi tiếp “ Nội có gặp ba con không?”. Nội nói “ có” rồi cúi gập người xuống kêu đau lưng quá.  Mẹ với Hai Chánh vừa xoa lưng cho bà “ thương Nội quá”. Chánh hỏi tiếp “ Nội khỏe không?”. Một chút là Nội ngồi phắt, thẳng người, cười tươi “ khỏe rồi”. Trong trí nhớ của tôi, hình ảnh Nội lúc khỏe, với cái đầu giống ni cô hiên lên rõ ràng. Còn cảm giác đau của chú Tư Tài với cái lưỡi bị đớ là rõ nhất.  Chánh hỏi tiếp “ Nội gặp cô Năm Nghị không?” Mẹ tôi cự “ Năm Nghị còn sống mà, chồng cô Năm mới mất chứ.” Hai người nói tới đó là Nội đi mất lúc nào không hay.

Cả nhà ngồi lại và tính là giờ mọi thông tin chưa rõ ràng lắm ngoài thông tin là về gặp bà Thu, đồng đội của Nội. Mẹ tôi nói thỉnh Nội một lần nữa và ba tôi phải hỏi ông Nội chứ ba tôi vẫn mất thần hồn từ những cú giáng như trời đánh của ông Cố Nội. Mẹ tôi nghĩ là do trong hai người con trai của Nội, ba tôi là người gần ông Nội nhất lúc ông còn sống nên để ba tôi hỏi là tốt nhất.  Thỉnh Nội lên. Nội tôi lên liền mà ba tôi cứng lưỡi không hỏi được gì.  Ba tôi chỉ cầm tay tôi và xoa chứ không thốt được lời nào. Nội quạu “ mày hỏi gì hỏi đi không tao đi”. Mẹ tôi lật đật cầm tay tôi nói “ ba đừng đi, để tụi con hỏi, ba đừng giận Hai Năng, Hai Năng khẩu xà nhưng tâm Phật, Hai Năng nhớ nhưng thương ba lắm nhưng không biết cách nói ra lời, đôi lúc nói còn khó nghe, ba đừng giận.” Nội hiền từ nói “ biết nhưng không giận. Con tao mà. “  Mẹ tôi lại quay sang hỏi lại lần nữa “ ba hy sinh ở núi Bà phải không? “ Nội lắc. “  Mộ ba ở huyện Hoài Nhơn? Tuy Phước? “ Nội lắc đầu, phủ định. Mẹ tôi hỏi để xác nhận lại lần hai “ Mộ ba ở nhà dân à? Nội lắc. “Mộ ba ở nghĩa trang liệt sĩ phải ko ba?” Ông Nội gật.  “Mộ của ba có tên không? “ Nội lắc. Mẹ tôi chợt nhớ tới bí danh của ông Nội khi đi B, mẹ hỏi “ Mộ của ba có tên là Hồng Sơn có phải không? “ Nội cười “ sao hỏi kỳ quá à” . Mẹ tôi hỏi “ vậy mộ của ba là vô danh à? “ . Nội gật. Mẹ tôi” vậy ba muốn về nằm canh ông Nội Cử hay về nghĩa trang Liệt sĩ Quy Nhơn?.”  Nội trả lời” cứ tìm đi, được rồi tính tiếp”.  Mẹ tôi nói “ vậy ba phù hộ chỉ đường tìm mộ cho ba nhen?” Nội gật đầu. Mẹ tôi nói tiếp “ ba chỉ đường cho Hai Năng tìm mộ ba nhen.? “. Tôi cảm nhận là người bị ẩn ra phía trước và môi đẩy ra. Mẹ kể lại  ông Nội bĩu môi và “ thằng khờ ấy thì biết gì.” Mẹ tôi nói tiếp “ vậy ba chỉ đường cho Hai Năng và Hai Linh tìm mộ ba nha?”  thì ông Nội ngần ngừ  rồi “ Ừ”. Mẹ tôi tiếp “ ba chỉ đường cho Hai Linh, Hai Năng và con tìm mộ ba nha.” Ông cười tươi và gật đầu. Chánh tiếp lời “ con cũng đi nha Nội.” Nội gật đầu. Chánh túm lấy Nội, mặc cả “ vậy nheng, Nội hứa rồi nhen, Nội chỉ đường cho Hai Linh à nhang, chị Hai Linh vào mà Nội không chỉ là không được với con à nhang.”  Nội cười khà khà rồi đi mất.

Nhà tôi quay về bàn thờ Phật bái tạ vì đã phù hộ, thỉnh mời và giao lưu được tất cả hương linh người thân.

Về nhà, mẹ tôi nói phải đi tìm ngay cho dù có được hay không. Lúc mới ra Chánh mặt ỉu xìu vì ra vì bác Hai, chị Hai nói ra là phải ra chứ không tin tưởng. Sau khi áp vong xong, Hai Chánh phấn khởi cùng chị Hai gọi điện cho cô Sáu Hạnh, nhờ kiếm bà Thu. Mẹ tôi và Chánh nói lúc đầu mới vào Đông Tác, nhìn bề ngoài, mẹ tôi và nó nản lắm nhưng không ngờ nhà tôi là nhà được phù hộ, hương linh về nhanh nhất, hỏi được nhiều thông tin và ra về sớm nhất.

Chánh gọi điện cho cô Sáu, đầu dây nó nói “ thiệt mà cô Sáu, Sáu biết con hồi giờ đâu có tin mấy vụ đây đâu.”  Từ sau khi đi áp vong về, Chánh ta mặt mũi phấn khởi, rạng rỡ hẳn. Nó mừng vì được gặp ba nó. Ăn cơm nó cười miết, bác Hai toàn bị uýnh không à. Ai lên cũng trách bác Hai hết trơn. Ba tôi ngần ngừ” Cố Cử thương ông Nội tui mày nhất trong đám con, thương tao nhất trong đám cháu. Con Linh nó đánh tao chứ cố Nội đâu nỡ đánh.”  Chánh trụi cự “ trời bác Hai không thấy tướng chị Hai con ngồi oai vệ, khi ông Cố về, khuỳnh như võ tướng há, ông Nội thì ngồi, phong thái điềm đạm, bà Nội thì lưng còng, chú Khoa thì giọng trẻ con, ba con thì khỏi nói, mấy người kia chỉ khóc mà tới chỗ ba con, nước mắt, nước mũi, nước dãi chảy, bác Hai gái và con lau không kịp à.” Ba tôi lẩm bẩm “ chưa kịp thông báo gì tình hình học tập, công tác đã bị đánh tới tấp. Quíu rồi, nói gì được nữa.

Ba tôi kể, trước khi ông Nội đi B, Nội viết dặn, một là con xếp bút nghiên, theo ba ra chiến trường, hai là thi Y khoa như ba, ba là thi Bách Khoa. Hồi tao kiên quyết xin đi bộ đội, mấy ổng không cho , kêu ba tao chỉ có mình tao, bắt đi học chứ từ chối bao lá thư tao xin đi bộ đội. Y khoa thì thôi khỏi, sợ chết cha, mỗi lần ba kể ca mổ, ăn cơm muốn ói, theo Bách khoa.” Có thể nói đến ngày về hưu là ngày ba tôi tự hào trong tâm khảm, muốn khoe với Nội nhiều lắm, thằng con của ba Long, khi ba ra đi, ba thương muốn cắt ruột thừa cho nó khỏi đau sau này khi không có ba. Thằng nhỏ ở cái tuổi lỡ cỡ, ba giao lại cho người em kết nghĩa cùng ngôi nhà. Có ngờ đâu, người em kết nghĩa đó chiếm luôn ngôi nhà, và thằng nhỏ bị bà vợ bé của ông ta hành, khổ nhục đủ điều. Có những lúc nó dạo quanh những con phố nhỏ, ngõ nhỏ Hà Nội, túi rỗng không và lòng cũng rỗng không. Và nó sốc nặng, sút học khi nghe tin ba mất. Bên kia chiến tuyến, má và em ở đâu, ba Long, chỗ tựa duy nhất đã mất. Thằng xoăn bé nhỏ của Nội, sợ ba mà thương ba vô bờ, nhớ những bữa ăn nộm bò do người Tàu bán, nhớ phố Lò Đúc ngày nay là Phố Cò ỉa do Cò đậu cả dãy phố. Ba tôi hoàn toàn có thể tự hào là đến giờ phút cuối cùng, ba tôi vẫn giống Nội, tận tâm với công việc, có quyền trong tay nhưng không lạm dụng, trung trực như đức tính của những đứa con miền Võ, bình dân, sống vì cái tình như người dân bình dị quê hương. Nội tôi có thể tự hào vì thằng con nghịch, đập đầu ăn vạ má sớm hôm đã đào tạo biết bao lớp người , họ trưởng thành, vững chắc, có người đi, có người quay về, phần nhiều quay về và chiều chuộng Hai Năng như người thầy, người cha. Các cháu Hai Chánh, Tư Tâm, Năm Chí cả Sáu Cườm xì xào với nhau “ bác Hai giông ba Tư Tài quá, ông quạu với Hai Linh là chụp được cái gì là ổng quăng. Cỡ Hai Linh còn sợ.” Chúng nó chiều và chăm sóc bác Hai Năng như ba Tư Tài của chúng nó, một điều bác Hai, hai điều bác Hai, lo bác Hai từng miếng cơm, giấc ngủ, chở bác đi tắm biển, hầu chuyện bác cho bác vui mỗi khi bác Hai về chơi. Có lẽ Nội biết cả nên Nội đâu nỡ đánh, Nội chỉ la chứ nghe đồn hồi nhỏ, ba tôi bị Nội đánh hoài, thế đánh con, chỉ dòng họ nhà tôi mới có. Và cũng chính vì thế, ba tôi vẫn lăn tăn, mông lung khi bị Cố đánh. “ Con Tú Linh nó đánh tao chứ Cố không đánh.”

Hai Chánh hôm sau lên đường quay về Nha Trang còn nhà tôi quyết định, hai ba con đi vào Bình Định với manh mối ít, xác định đây là chuyến đi lâu dài, và không phải chỉ đi tìm một lần. Tôi thu xếp dạy bù cho sinh viên để nghỉ dài ngày, đi cùng ba tìm mộ ông. Mẹ phải ở  nhà khấn ban thờ ông Nội và ông Cố, kính các hương hồn gia tiên theo phù hộ hai cha con.  Do Nội đã từng sống và làm việc tại Hà Nội nên hai ba con tôi đi mua những đặc sản của Hà Nội mang vào cho Nội. Nhang, mứt sen, bột sắn dây, bánh đậu xanh, chè lam. Vừa làm quà cúng Nội vừa làm quà tặng đồng đội của Nội.

Qua ngày thứ ba, mùng 9/03/2010 trong lúc đi hỏi thăm một vài người trong khu phố cũng đã tìm được mộ của người thân thì  cô Sáu gọi điện. Sáu nói “ trời, cô Sáu tìm được bà Thu rồi nè, bạn ông Nội nên con gọi là bà Nội Thu nhen. Có bà Nội Thu đây, con hỏi đi nè”.  Tôi alo mà do giọng tôi vừa nhanh vừa Bắc Kỳ nên bà Thu không có nghe thấy. Tôi đành nhờ cô Sáu trao đổi với bà rồi có gì đợi thứ Năm tôi lên tàu, về tới nơi tôi xin thăm bà. “ Bà Sáu Thu cũng nói với cô Sáu Hạnh là bà chờ ba con tôi vào rồi bà đưa đi tìm mộ. Tối thứ tư thì cô Sáu lại gọi ra kêu là đồng đội ông Nội còn nhiều lắm. Ba tôi cũng từ nguồn nào đó tìm được ông Tường, cũng là đồng đội của Nội tôi. Thấy mừng mừng. Tối thứ tư, cô Sáu gọi tiếp “ ông Nội con linh thiêng thiệt nha. Bà Thu đang đau, chân nhức không muốn đi mà nói tới chuyện ông Nội, bà thấy hết đau, đứng dậy đi liền. Bà Thu chắc ăn là ông Nội con có đi cùng ông Thành  nên bà Thu hỏi thăm được bà Vinh là vợ ông Thành, anh em kết nghĩa với ông Nội con và là người trong chuyến đi công tác ấy, là người mà Nội cõng chạy càn. Bà Vinh đã thuê người đi tìm và hốt cốt ông Thành rồi. Khi hốt ông chủ vườn nói là vườn nhà ông có 2 xác nữa, nếu hốt thì phải hốt chung 3 người thì mới cho hốt, không thì thôi. Do vậy nên bà Vinh đã đồng ý và đưa cốt ông Thành về nghĩa trang Quy Nhơn còn hai cốt kia về nghĩa trang thôn Thái Xuân, xã Nhơn Hạnh, huyện An Nhơn, tỉnh Bình Định. Rồi muốn hốt cốt về nghĩa trang liệt sĩ Quy Nhơn sao thì bà Thu sẽ nhờ bên chính quyền địa phương đường đi lối lại. ”  Tôi mừng quá, la lớn và ba mẹ tôi đều khấp khởi hy vọng. Vậy là manh mối còn quá nhiều, Nội đúng là phù hộ rồi đó. Nhưng có điều Chánh, tôi và mẹ băn khoăn. Lúc ở Đông Tác, cảm giác rất mạnh là Nội chưa bao giờ nghĩ tới việc xa đồng đội. Việc hốt cốt ở đâu, tính sau đi, trước mắt tìm được mộ Nội đã.

Thứ sáu ngày 12/03/2010 tới thành phố Quy Nhơn nơi bà nội và ông bà ngoại sống. Ở nhà cô Sáu Hạnh và dượng Lành. Tối, cô Sáu kể rõ thông tin không qua được điện thoại.  “ Bà Sáu Thu nhiệt tình lắm à nha. Bà nói  cỡ nào cô cũng đi cùng các con. Bà không cho đi tìm ông Bảy Cường con bà Ba Kẻ, sợ ông ý làm tiền. Bà Sáu Thu coi ông Nội như anh, biết từ hồi bé xíu à. “  “ủa ông Bảy Cường là ai vậy Sáu?”. Sáu Hạnh hồ hởi kể tiếp “ như vầy, hồi giải phóng xong, bà Vinh vợ ông Thành, anh em kết nghĩa với ông Nội con đó, giàu lắm. Hồi đó mà bà đã thuê tiền triệu không à, thuê ông Bảy Cường cũng là ba con xa  với ông Thành đi tìm mộ ông Thành. Mà ông Bảy Cường lanh lẹ lắm, rồi cũng nhờ nhà ngoại cảm ở Sài Gòn chỉ đường. Tìm được tới vườn nhà dân, ông hốt cốt rồi nhờ ngoại cảm xác minh các vật chứng đi kèm, xác minh được cốt ông Thành. Trời hồi đó tìm mộ tiền không à nha. Tiền thuê ông Bảy Cường, tiền biếu chủ vườn, tiền hốt cốt, tiền nghĩa trang, làm ngon lành rồi, xã kêu lên để lĩnh tiền tìm mộ, biếu luôn xã. Giờ bà Vinh đi bước nữa mà mấy thằng con ông Thành bà Vinh giờ giàu có ở Sài Gòn lắm. Cô Sáu tới nhà bà Vinh mà bà giờ lẫn rồi, bà bị mổ sọ não đó mà hên là bà con ghi ngày mất của ông Thành mà cũng là của Nội con , khoảng 5 giờ sáng ngày mùng 3 tháng 01 năm 1968, (tức ngày mùng 3 tháng Chạp   trước Tết Mậu Thân, Âm lịch ăn năm 67 ) vào sổ chớ giờ bà không có nhớ gì hết trơn à. Bà Vinh nói tìm Bảy Cường con bà Ba Kẻ, nó còn trẻ, nó là người đi tìm nên may chăng nó còn nhớ. Mà cũng lâu quá rồi. Hơn 40 năm gì nữa.” “ Ủa hay ghê, sao biết 5 giờ sáng vậy? “ “ Hổng biết.” Rồi ông nào đó, cô Sáu nói mà giờ tôi không thể nhớ nổi tên là người cũng theo ông Thành và ông Nội tôi đi chuyến công tác đó, có điều ông nhát nên ra thấy pháo là quay đầu về chịu kỷ luật, giờ nắm danh sách các chiến sỹ, cán bộ đi chuyến đi công tác đó. Chắc chắn có ông Thành và ông Nội Long của tôi.

Sáng hôm sau, Hai Chánh cũng ở Nha Trang ra Quy Nhơn. Bốn người tới nhà bà Sáu Thu liền. Bà vắng nhà, đi Phù Cát từ hôm qua, chắc chiều nay về. Không sao, chờ bà, nhất định phải chờ vì bà Sáu Thu nhiệt tình lắm, bà dặn cỡ nào cũng phải có bà đi cùng. Cả nhà lên nghĩa trang Bùi Thị Xuân nơi bà Nội, ông bà Ngoại yên nghỉ. Ghé nhà ông bà ngoại thăm cậu, mợ và dì Út.  Các cậu, mợ và dì đều là giảng viên đại học và cấp ba nên mới nghe chuyện ông Nội nhập vào tôi chỉ mộ, thoáng nghe dì Út không tin rồi vặn “giờ sao tìm tiếp?” “ bằng niềm tin dì ạ.” Chỉ có cậu Minh nghe nói tới tôi đi áp vong tại tổ chức do bộ Công An, trung tâm khám phá các tiềm năng con người là cậu gật, công nhận.

Chiều lại ghé bà Thu vài ba lần. Bà chưa về. Đến ngày chủ nhật, 14/03/2010 lại ghé thì cháu bà nói, bà giỗ em trai bà ở Phù Cát chưa về, chắc mai về. Luần quần , ba tôi bắt đầu nôn nóng, bồn chồn. Lo lắng hơn khi ba và cô Sáu đi gặp ông Tường, ông Tường cũng không biết gì hết. Chỉ loáng thoáng có biết là ông Thành và ông Nội tôi có trong chuyến đi xuống khu Đông Bình Định nhưng không có thông tin thêm nào khác.

Tối, Năm Chí là con chú Tư Tài ra chăm ba tôi từ hôm thứ tư tuần trước rủ đi uống cà phê. Con nhỏ này đảm đang mà ham chơi. Hơn tôi 3 tuổi mà vẫn suốt ngày khoe cái răng khểnh và đi chơi thì khỏi bàn. Tối uống cà phê cùng bạn nó, nó hứng chí rủ tôi hôm sau đi đảo Hải Minh chơi. Mới nghe tôi đã nạt liền “ mày về đi tìm mộ Nội với tao hay đi mày đi chơi? Biết Nội thương cháu gái, thì tao mới kêu một là mày, hai là Tư Tâm ra, con Tâm bận công chuyện, không thể ra, tao và Hai Chánh mới kêu mày.” Con bé chắc chưa bao giờ thấy Hai Linh đổ quạu. “trời  em giỡn mà, Hai dữ vậy.” Có lẽ vì lý do ham chơi, chưa thành tâm này mà nó không có duyên gặp ông Nội tôi. Nó phải về Nha Trang vào sớm ngày thứ ba để đi làm tiếp.

Sáng ngày thứ hai, 15/03/2010 , trong lúc chờ đợi bà Thu đi ăn giỗ về thì tôi, cô Sáu và Năm Chí đi mấy chùa tại Phù Cát ăn giỗ, cúng dường và cầu khấn. Đi qua nghĩa trang liệt sĩ Phù Cát, tôi và bé Chí nhìn nhau, cùng nghĩ tới Nội. Đến chùa của cô Minh Lạc làm trụ trì, tôi chui vào góc bếp, ăn đồ chay sao mà ngon. Duyên gặp một ni cô rồi ngồi tiếp chuyện. Cô nói “ có người nói sao có nhiều người ác mà vẫn giàu có, sung sướng không bị quả báo thì rằng có thể do kiếp trước họ tốt, kiếp này họ còn dư phước xài nên họ không sao, nhưng những tội họ phạm kiếp này, vẫn tính. Có quả báo đời sau phải trả, có quả báo ngay đời này phải trả. Những người Phật tử đi chùa cũng giống như học sinh, sinh viên của con vậy, con giảng bài có người hiểu 10%, có người hiểu hết, có người không hiểu gì. Giống như ni cô khi giảng kinh, các Phật tử người hiểu, người không hiểu còn do duyện, phận làm họ ngộ được đến đâu. Có người cứ nghĩ là mình làm điều ác rồi đi cửa chùa, không phải vậy. Rồi sinh ra con người có bản tánh riêng và bản tính đó do duyên, do phước mà người ta giữ được mình trước cái xấu, không thay đổi bản tánh. Nhưng cũng có trường hợp như cái bánh được đúc trong cái khuôn, cái khuôn đã hỏng rồi sao cái bánh đẹp được.Làm người tốt đã khó, làm ni cô còn khó hơn, phải can đảm trước những cám dỗ để không bị môi trường thay đổi bản tánh thiện. Là giảng viên như con cũng vậy,  bổn phận là thấy trò sai, là  phải nói, phải chỉnh. “ Mô Phật.

Chiều về tới Quy Nhơn là lại vô nhà bà Sáu Thu hỏi thăm. Con gái bà nói là bà về rồi, chia lộc cho các cháu rất vui vẻ rồi lại khăn gói lên đường đi tụ tập đồng đội ở chiến trường xưa, chưa biết bao giờ về. Con dâu bà nói là có chị Sáu Hạnh qua tìm mà suốt, tìm mộ ba chị Sáu thì bà Sáu nói “ tìm được mộ rồi mà.”   Rồi ba đi tiếp. Nghe con dâu bà Sáu nói vậy, cô Sáu buồn ghê gớm “ trời đã sờ được miếng đất, miếng cát nào của ba Long đâu mà tìm được mộ rồi. Thấy cô Thu nhiệt tình thì mới chờ chớ giờ bà Vinh cũng lẫn, vậy tìm ông Bảy Cường con bà Ba Kẻ vậy.” Sốt ruột cô Sáu gọi điện cho anh Sơn là cháu bà Sáu, chị gái ông Nội tôi. Khi lên thăm ba tôi ngay tối hôm cha con tôi về Quy Nhơn, nghe cô Sáu nói chuyện, anh Sơn thắc mắc “ ủa sao nghe nói ông Chín hành quân ở núi Bà mà lại tìm được cốt ở vườn huyện An Nhơn được ta? Vòng quanh, ôm Núi Bà là Phù Cát chớ. Từ núi Bà ra An Nhơn xa lắc à. Kỳ vậy? Ông Bảy Cường con bà Ba Kẻ em biết mà, ngày gần nhà em đó.” Nghe anh Sơn nói với cô Sáu vậy, cả nhà cũng thấy hoang mang. Thì tìm bà Thu không được hẵng tìm ông Bảy Cường vì bà Thu nhiệt tình lắm.  Và giờ đúng là phải nhờ anh Sơn tìm giúp ông Bảy Cường con bà Ba Kẻ rồi. Cô Sáu cũng nóng tính, sợ anh Hai lo nên chỉ mình hai cô cháu đi tìm bà Thu không ổn là chở tôi cái rẹc xuống nhà anh Sơn liền. Tới luôn nhà ông Bảy Cường. Ông Bảy Cường đen trũi, rắn chắc và giọng nói đúng miền Tuy Phước, quê gốc của ba tôi. Ông nhiệt tình nói luôn vào vấn đề, cô Sáu và anh Sơn nghe được cả, còn tôi, do chưa quen giọng nói , người cứ lử đừ nên chỉ nghe được vài phần. Thông tin cũ cô Sáu đã nắm, thông tin mới là không phải ông Bảy hốt 2 mộ ngoài mộ ông Thành mà còn cả xác một người đàn bà mặc áo bà ba đen, tóc dài. Ông Thành thì chết ở dưới giếng, ở tư thế ngồi còn trên vườn sau khi giải phóng, chủ vườn về thấy thì góc vườn là xác một người đàn bà, còn có hai người đàn ông nằm trên đất vườn. Sợ quá ông vội vàng hất đất chôn vội, có khi lẫn cả cốt của hai người. Xương cốt sao không rõ nhưng còn nhìn thấy tay nhô lên khỏi đất. Chắc nhà con chỉ thờ vong là chính chứ xương cốt hai người là có chút lẫn rồi đó, do ông chủ vườn chôn vội mà. Rồi ông kể tiếp là trận đánh năm đó dữ dằn lắm, nguyên tổ giao liên bị hốt nên cách mạng mất liên lạc. Quân ta từ núi Bà xuống khu Đông Bình Định, xuống tới An Nhơn thì thấy đèn nhấp nháy trong đêm tối lờ mờ tưởng dân vẫn để đèn dịp Giáng Sinh, ai dè xuống tới nơi, áp sát thì mới biết xe tăng địch đậu đầy. Pháo nổ chạy không kịp. Cái nhà ông chủ vườn nổi tiếng giàu một vùng, kiên cố là vậy, cũng không chịu nổi pháo huống hồ là người. Có bà nào đó hiện giờ ở ngã tư Hai Bà Trưng và Trần Cao Vân, Quy Nhơn nè, bị thương nằm dưới ruộng 4 tiếng, đau không thấu, vừa mò lên khỏi ruộng bị tụi Nam  Triều Tiên (Pak Chung Hy)  túm liền, mang đi, sau đầy đi Côn Đảo.  Bọn đó còn mang đi chứ ngụy là nó bắn bỏ liền. Lúc đó trong đầu tôi “ hay là bà Sáu Thu?” “Ủa thế còn ông nào quay đầu về chịu kỷ luật bác Bảy Cường có biết không ạ?”.  Nào có ai chớ mà đún thiệt thế này, có những người sau giải phóng chỉ biết thân ảnh, chẳng nhớ gì đồng đội, có nói xác nhận giấy này kia tìm đồng đội mà người ta ngó lớ. Còn ông mà cô Sáu con nói tới hình như là  đi theo ông Thành, cầm cái túi đựng tài liệu, qua hàng rào rớt xuống ruộng , ông Thành nói quay lại tìm túi, rồi thằng nhỏ đó bị bắt, sau bị đày đi Côn Đảo. Thông tin lại từng mảng và nhiều chiều. Ông Bảy Cường chắc chắn “ nếu thiệt ông Long có đi với ông Thành trong chuyến đi công tác đó thì chắc chắn một trong hai mộ mà tôi chôn tại địa bàn thôn  Thái Xuân là ổng đó.” Cô Sáu Hạnh và anh Sơn nằn nì “ vậy mai ông đi cùng tụi con xuống Nghĩa Trang Liệt Sĩ tại thôn Thái Xuân nha.” “ tôi mắc công chuyện rồi.” “Vậy khi nào ông hết công chuyện hay chiều thì ông gọi tụi con.” Thấy ông Bảy chần chừ tôi nói “vậy mốt nha bác Bảy”. “được”. Hỏi ra thì hóa bác Bảy bằng tuổi ba tôi, mấy anh con trai và vợ bác cứ ngồi băn khoăn “ sao giờ tìm?”. Cô Sáu sợ mọi người không tin hương linh Nội nhập vào tôi nên nói “ thì con nhỏ cháu con ra ngoài Hà Nội lại xin ngoại cảm, áp vong tiếp.”

Về đến nhà, tôi gọi thằng Chánh, thằng quỷ chỉ sợ vía ba tôi, bác Hai nó, được có vài ngày là nó lại đi nhậu. Tôi gọi điện cho nó “ em về Hai biểu, về lẹ nha.” Vai vế, tôi trưởng nữ, nó trưởng nam, tôi cao hơn nó về vế nhưng nhỏ tuổi hơn nên nó vừa kính chị vừa cưng chiều, chăm lo và chiều tôi vì là chị Hai nhưng chị Hai bé, chị Hai chỉ có một mình còn nó có tới cả 4 đứa em nữa lận. Nó nổi tiếng chăm làm và cà trớn. Lúc về nghe chuyện nó đồng ý ngay ngày mai lên nghĩa trang luôn để coi sao. “ chị Hai yên chí, ngoài Hà Nội, ông Nội đã hứa là sẽ chỉ cho chị Hai, chỉ mình chị Hai thôi. Mình cứ tới nghĩa trang, khấn hỏi Nội, Nội mà không chỉ là biết em à nha.” Nó nổi tiếng trong họ vì vụ kích hai ông bác họ trong một đêm đi taxi từ Đà Lạt xuống Nha Trang chỉ để uống với nó môt ly bia rồi sáng hôm sau lên lại Đà Lạt. Nó tin tưởng vào sự khùng và quậy của nó. Vì thế, nó dám mặc cả với Nội. “thằng quỷ, cà trớn mày”. Tôi đánh khẽ vào vai nó.

Sáng mùng một, ngày 16/03/2010 . Đêm qua tôi ngủ không ngon lắm, người hơi mệt. Sáu người, anh Sơn đèo Chánh, cô Sáu đèo tôi, dượng Lành đèo ba tôi tìm đường lên thôn Thái Xuân, xã Nhơn Hạnh, huyện An Nhơn. Lạc đường, cô Sáu, dượng Lành la um trời. Quần qua quần lại cái ngã ba Yên Ngựa, cô Sáu cứ 80km chạy đến nỗi thằng Chánh kêu “ cô Sáu đi chầm chầm nha, đừng để ai qua mặt là được.” Nó vẫn tếu thế. Cuối cùng cũng tìm ra được nghĩa trang. Nghĩa trang thật đẹp, gió lộng. Các mộ liệt sĩ quay đầu hướng về núi Bà, trước nghĩa trang là những cánh đồng bát ngát, cò bay vài chục con, gió thổi rạp lúa. Bên trái là trường học cấp 2, rộng, mới xây, đẹp, khang trang. Bên tay phải là ủy ban nhân dân xã. Tôi vào nghĩa trang, sửa soạn quà Hà Nội và hương Hà Nội thắp lên lư hương chung, kính viếng các hương hồn liệt sĩ. Trên hai tấm bia ghi rõ tên những liệt sĩ của xã Nhơn Hạnh và dưới cùng là dòng chữ “ 149 mộ liệt sĩ chưa xác định tên.”

Con trai trưởng của liệt Sĩ Trần Minh Long đứng trước khán đài Tổ Quốc Ghi Công, nghĩa trang huyện An Nhơn, tỉnh Bình Định.

Lúc đi không mang giấy báo nên tôi nói Chánh đốt hương cho tôi để tôi đi thắp ngôi mộ các liệt sĩ chưa biết tên. Tôi thầm cảm ơn những ai đã thay dòng chữ Vô Danh bằng dòng chữ chưa biết tên. Chưa biết tên có nghĩa là rồi sẽ biết, rồi sẽ có hy vọng. Những chiến sĩ ấy có tên chứ giống như lời nhắn nhủ khi bà Nội còn sống, đi ngang qua mấy tấm mộ liệt sĩ vô danh, bà Nội ghé nón, gọi ba tôi lại Nội biểu “ Năng, ba mày là Liệt sĩ vô danh hả Năng? “ một lời nhắn nhủ của người mẹ với đứa con trai, mong mỏi tìm lại tên, tìm lại nơi an nghỉ của chồng mình.

Mẹ tôi gọi điện, mẹ ở nhà trực chiến, để thắp hương trên bàn thờ gia tiên. Mẹ nói có vài cách dân gian, mẹ đọc được ở sách,  để khẳng định mộ mà mẹ đã dặn tôi từ mấy hôm trước, giờ mẹ dặn lại. Một là đang thắp hương thì hương tắt. Hai là để quả trứng lên cây đũa, trứng dính vào đũa. Ba là cầm cái đũa, lấy cái nhẫn vàng ta, trơn, nắm vào tay, rồi bứt ngọn tóc, buộc vào rồi lắc trước mộ, khi nào cái nhẫn lắc hướng về phía lòng mình là đúng mộ người nhà mình. Tôi vâng vâng dạ dạ mà chỉ nhớ được mang máng. Tôi xuống xin thắp nhang cho các mộ liệt sĩ chưa biết tên trước do tôi có mang một ống nhang Hà Nội. Cô Sáu và ba đi vào xã làm việc. Trong lúc chờ, Chánh nói “ chị Hai thấy nghĩa trang xây đẹp không? Nhìn hàng ngang cũng thẳng mà nhìn hàng dọc, chéo cũng thẳng luôn.” Khi đi thắp hương cho các liệt sĩ, mấy dãy hàng phía trên và cuối cùng, nhiều liệt sĩ chưa biết tên. Rất nhiều.

Bên tay phải nghĩa trang là Ủy ban nhân dân xã, nhưng ngôi mộ liệt sĩ chưa biết tên nằm ở mấy dãy đầu và cuối của nghĩa trang.
Bên tay phải nghĩa trang là trường học PTCS.

Mộ các liệt sĩ quay đầu hướng núi Bà.

Núi Bà ở đằng xa.

Mấy anh xã đi đâu đó, chưa gặp được. Các nén nhang ở mộ các liệt sĩ chưa biết tên đều cháy hết riêng 3 nén nhang trên lư hương, 1 nén cháy hết, 2 nén tắt dở dang. Phải chăng đây là dấu hiệu của Nội giống lời mẹ tôi nói, theo dân gian, còn 2 ngôi mộ và một trong đó là ông Nội tôi.

Giữa trưa nắng, tôi và Chánh quyết khấn thử, và tôi cũng đã gọi điện, mong mẹ ở nhà thắp hương xin ông về, mời hương linh ông để hỏi. Giữa nghĩa trang liệt sĩ xã Nhơn Hạnh, huyện An Nhơn, ngồi ngay dưới lư hương, gió thổi mát, tôi xếp bằng và khấn. Tôi khấn trời, Phật, thần linh, thổ địa xứ này, hội đồng hương linh các liệt sĩ, gia tiên họ Trần và lần nào khấn tôi cũng xin nguyện dâng thân xác để hương linh mượn. Ở nghĩa trang, tôi đồng ý đích danh ông nội Trần Minh Long mượn để về. Một bên là ba tôi, bên kia là Chánh, cháu đích tôn của Nội. Ngồi hơi xa xa là anh Sơn, dượng Lành và cô Sáu. Tôi mang toàn bộ ảnh, kỷ vật của Nội, tờ giấy Công Đức ở Đông Tác, rồi bài khấn mẹ viết cho, tôi khấn. Mắt lại nháy nháy, Nội về, tôi vội đập đập tay vào Chánh. Chánh “ con chào Nội”. Nội gật đầu khẽ. “ Nội nằm ở nghĩa trang này phải không Nội?”.  Người tôi hơi chao đảo và Nội gật đầu vài cái. Chánh lại tiếp “ Nội chỉ mộ Nội đi Nội.” Nội cười khì khì rồi đi. Chánh ta kêu với tôi, “Nội giỡn không à, chị Hai.” Tôi cười nói “thì mày mặc cả với Nội là Nội hứa Nội chỉ cho tao, giờ tao vào đây, Nội chỉ rồi đó, mày kêu cái gì nữa. Giờ biết Nội nằm ở nghĩa trang này rồi còn gì. “ Chánh nhìn nghĩa trang với 149 ngôi mộ chưa biết tên, nó than trời. Giờ nói bác Hai hỏi Nội nha. Tôi lại khấn, rất nhanh, Nội về. Ba tôi lập cập “ con chào ba, tính từ cửa vào mộ ba ở bên tay phải hay tay trái, ba?” Nội tôi quạu, đánh khẽ “ mày hỏi ngu quá Năng!”.  Rồi Nội đi mất, rất nhẹ. Lần trước ở Đông Tác, không nhớ rõ ba tôi cũng ấm ớ với câu hỏi gì đó mà Nội nổi quạu với ba tôi “ Con Cặc” làm mẹ tôi và thằng Chánh bất ngờ, vì Nội có tiếng là điềm đạm.  Nhưng có lẽ tính cục ăn vào máu của những đứa con xứ Võ. Thằng Chánh thì khoái chí vì lần nào bác Hai nó cũng bị ăn chửi và ăn đòn. Nhìn nghĩa trang một lần nữa, thôi đành mai lên cùng ông Bảy Cường. Tôi thì thầm nghĩ, kể cả ông Bảy Cường không giúp được thì tôi cũng quyết làm phương pháp dân gian đi đến từng ngôi mộ liệt sĩ chưa biết tên, để khấn, để tìm ông tôi. Tôi gọi điện về báo cho mẹ tôi mừng. Việc tìm được chính xác nơi ông nằm đã là mừng lắm rồi. Tối hôm đó, ba tôi hơi mệt nên nói tôi thu xếp việc đi xe ô tô thay vì xe máy. Tôi băn khoăn lắm vì trong những quyển sách về tâm linh và mẹ dặn là đi tìm mộ thì phải tiết kiệm, không nên lãng phí. Chiều ba, tôi nói thằng em họ, Cu Ba, con cô Sáu,  lo taxi. Mẹ tôi nói người có công, người có của, mọi chi phí ba tôi lo hết. May sao mà chiều hôm đó, ba và cô Sáu đi thăm bà Sáu Thu thế nào mà lại gặp, bà nói mai bà đi cùng.

Sáng ngày 17 tháng 03 năm 2010, mọi người lên đường, chuyến này khá đông đủ, có cả bà Sáu Thu và ông Bẩy Cường, anh Sơn, vợ chồng cô Sáu, Chánh, ba và tôi.  Gặp bà Sáu Thu “ còn chào Nội Sáu”. “ Chào con, con bữa nay bao tuổi, bà nghe tiếng mà chưa gặp mặt.” “Dạ con 29 tuổi.” “ Trời sao mặt bay trẻ dữ vậy con.” “Dạ”.  Trên xe, Chánh và ông Bảy Cường than về các cơ quan chính quyền xã, những công chức hành dân, ông Bảy Cường kêu “ giờ chỉ có bác Hồ đưa đường là nhanh nhất.” Bà Thu la “ không xuyên tạc à nha.” Cán bộ hưu trí Cộng sản vẫn vậy. Khi ba tôi thưa với bà Sáu và ông Tường là ở Hà Nội, khi hỏi ông muốn về đâu, dường như ông muốn ở lại với đồng đội. Bà Sáu Thu và ông Tường đều nói “ ừ, anh Long Cách Mạng và Cộng Sản lắm, tao biết tính ảnh mà, đồng đội lắm.” Bà Sáu Thu, con người đã trải qua cuộc chiến tranh mới thấu hiểu giá trị của hòa bình. Tiến về phía núi Bà, ông Bảy Cường nói “ nhìn quả đồi nhỏ vậy mà đi nguyên một tiểu đội giao liên đó, pháo bắn dữ lắm.” Tôi nhìn núi Bà, không cao lắm, nhìn quả đồi lại hồ nghi hơn. Ô tô đi đến đâu là chó , gà, chim bồ câu  thể hiện tính nết của những người con xứ sở, từ con gà, con chim bồ câu đến con người, khi ô tô đến gần, vẫn thản nhiên, đi tiếp, không sợ, không tránh, sát sàn sạt mà cái con vật bằng sắt kia, cái ô tô kia phải nhường mình, chứ quyết không nhường. Tôi bật cười khi nhớ lại cảnh đi chợ cùng cô Sáu. Câu cửa miệng của các bà, các cô khi không vừa ý, khi nghe giá mắc, khi nổi nóng là “ mày trốn đi mầy”. Nếu không phải dân địa phương chắc không hiểu nổi, đó là câu nói tắt của câu “ mày trốn cha mày đi không tao đánh mày bây giờ.”  Không nói nhiều, bụp luôn, oánh luôn cho lẹ. Một là lỳ, hai là uýnh liền. Giống như một câu nói của một võ sư Tây Sơn “ đi thì nhẹ như lá, đứng thì vững như đá.” Những đứa cháu mới thôi nôi cũng vậy, chưa biết đi đã biết bò trèo câu thang nhoay nhoáy, đầu đụng kính, xoa đầu không khóc. Nghịch, thì chỉ có nước đánh, mà đánh thật mạnh bọn nó mới thôi không dám đụng đồ chứ cũng không khóc. Lang thang vẩn vơ nghĩ như vậy, chợt ông Bảy Cường kêu “ chờ chút, đi hướng này, tôi nhớ đường nạy lẹ hơn.” CuBa cua xe theo hướng chỉ, đi vào đường làng. Giữa làng là cái chợ quê. Tôi quan sát nhà dân và thầm hỏi, trong những nhà dân kia, nhà nào là nhà Nội tôi đã hy sinh. Ông Bảy Cường nói là nhà dân đó cách nghĩa trang khoảng 2 tới 300 mét. Và rồi ông Bảy Cường không nhớ nổi đường do mọi thữ thay đổi quá nhiều. Hỏi dân địa phương thì chúng tôi cũng gặp lại con đường mà ngày hôm qua, nhà tôi tự mò và cuối cùng cũng tới nghĩa trang. Nỗi lo sợ phai màu thời gian khi ông Bảy quên đường tới nghĩa trang tăng lên khi tới nghĩa trang ông thốt lên “ trời hồi tôi hốt là mả đất không à, giờ cải lại thành nghĩa trang đẹp quá mà tôi không có nhớ chỗ nào. Giờ nhiều quá.”  Cả nhà thoáng buồn trong lòng. Tôi lại mang hoa quả mua từ sáng, quà đặc sản Hà Nội thắp hương cho hội đồng hương linh. Nghe nói các chiến sĩ quê đất Bắc nhiều lắm, những mòn quà đất thủ đô hy vọng sẽ làm các liệt sĩ chưa biết tên, các liệt sĩ đã có thời sống tại mảnh đất Thăng Long nguôi bớt nỗi nhớ xứ sở. Thắp hương xong, tôi lại nói ba , Chánh và mọi người đi thắp hương cho tất cả các mộ liệt sĩ, cả mộ chưa biết tên lẫn mộ đã có tên các liệt sĩ. Bà Sáu Thu đi từng ngôi mộ, lạy ba lậy rồi mới cắm nhang. Thắp xong tôi và mọi người trở lại bên lư hương của hội đồng tâm linh, dưới bia Tổ Quốc Ghi Công, gió quá, gió thổi lồng lộng làm cho các nén nhang tắt trụi. Tôi lo lắng thắp lại mà không thể thắp nổi. Tôi đâm ra đổ quạu với ba tôi “ nói không đi ô tô mà ba cứ đòi.” Mọi người nín thing. Bà sáu Thu nói đỡ “thì nhiều người đi ô tô chứ sao đâu con.” Dường như lời bà Sáu Thu đã làm tôi an tâm và làm các cơn gió thổi nhẹ hơn. Các nén nhang dưới mộ đều cháy và cong chỉ có trên lư hương là không cháy hết. Tôi và Chánh lại thắp lại, rồi mang thắp tiếp dưới mộ các liệt sĩ. Rồi ông Bảy Cường, cô Sáu và ba tôi đi vào ủy ban nhân dân xã làm việc. Mấy anh xã lại đi ăn giỗ, nói tránh là đi họp, 2 giờ chiều mới về. Phải chờ thôi vì hy vọng ở xã họ còn giữ bản đồ vị trí mộ trước khi quy hoạch và cải tác lại chứ giờ ông Bảy không tự tin với trí nhớ của mình. Mọi thứ thay đổi quá nhiều.  Mọi người chờ đợi. Ông Bảy và anh Sơn tìm quán cà phê, Chánh đêm trước mất ngủ vì bị muỗi xơi cũng cố dậy, đi theo ông Bảy vì nó là đại diện cho con cháu ông Nội. Dượng Lành thả mình nằm ngủ dưới gió mát lồng lộng, tĩnh lặng.  Bên trường học, một số học sinh đến sớm. Ba tôi ngồi tâm sự với bà Sáu.  Chờ đợi một lúc lâu thì ông Bảy, anh Sơn và Chánh về. Mọi người nói mấy anh xã đi ăn giỗ, có hỏi được điện thoại của anh chàng quản lý quy hoạch mộ mà nó trẻ quá, nắm ít thông tin, phải chờ một anh xã khác, chiều 2 giờ mới tới. Mọi người đói nên cô Sáu và tôi lấy bánh mì đã chuẩn bị từ sáng. Sau đó lại ngả lưng thưởng thức gió đồng nội, chờ đợi. Dường như gió ở đây cũng khác những vùng khác, mạnh mẽ mà lại dịu êm. Lúc này tôi mới có dịp hầu chuyện với bà Sáu Thu, giải tỏa những thắc mắc của tôi. “Nội Sáu, ủa sao chớ núi Bà con đâu thấy cao mà xa lắc mà sao Nội con xuống được tới đây Nội? Mà Nội Sáu đi cùng chuyến công tác với Nội Long con hay sao mà Nội biết đi cùng ông Thành ạ?”. Nội Thu với chất giọng ấm, Nội kể chuyện xưa. Những câu chuyện mà thế hệ ngày này nhìn lại một thời cha ông đi qua mà thấy hổ thẹn, thấy sống phũ phàng quá. Nội Thu ở trên văn phòng điều phối nên Nội biết các tuyến hành quân. Nội Long được đưa vào khu Đông Bình Định, tăng cường cho chiến dịch T25, Mậu Thân 68. Chiến dịch mà chỉ vì một ai đó, phản quốc, đã lộ thông tin làm xương chiến sĩ, đồng đội, đồng bào trắng đầy núi. “Làm công tác tử sĩ cũng thấy tội, có những thằng nhỏ, Bắc Kỳ, nó nhỏ xíu à, nó còn chưa cao được tới khẩu pháo, bế khẩu súng còn trầy trật. Bà hỏi nó “ủa  chớ em bé vậy sao mà bắn, em làm gì vậy?” Dạ em lắp đạn.” Mới chuyện tối đó mà sáng hôm sau người ta đã chở  xác thằng bé vào.” Mình chợt nghĩ những con người của một thời, bằng tuổi chiến sĩ đó, giờ đây, trong thởi bình, có các bé teen đứa thì điện tử, đứa thì được cưng chiều, còn chiến sĩ nhí, bé nhưng sự dũng cảm, hào khí một thời đã đưa em vào cuộc chiến để thời bình, dưới bầu trời tự do này, có những người đã quên, vô ơn. Chợt nhìn hai tấm bảng “ Uống nước nhớ nguồn, ăn quả nhớ kẻ trông cây.”  Nội Thu kể tiếp. “Núi Bà nhìn vậy mà trong núi có những đường hầm chỉ có người của Cách Mạng mới hay, các  đoàn quân đi từ Quảng Trị vô muốn xuống khu Đông Bình Định đều phải qua Núi Bà. Bà sợ là hồi Nội con đi, xuống được tới xã rồi mà dân thưa quá, ở đây không có cơ sở và hầm của Cách Mạng nên mấy ổng mới bị lọt vô ổ pháo.” Trí nhớ của bà dường như lúc rõ lúc không với cơn đau của bà. “ Ba chiến sĩ ngã xuống để bảo vệ một người dân đó con. Rồi có những lúc đêm, mới nằm cùng nhau ở hang, sáng thấy thằng nhỏ, pháo kích, tảng đá to hơn tấm bia ghi Tổ Quốc Ghi Công đây, đè nó, chỉ còn thấy tóc mà không sao đẩy tảng đá đi được. Làm công tác tử sĩ mà muốn khóc. “. Vậy đó, trong cuộc chiến, phía bên này chiến tuyến, hậu sự của các anh, các bác vẫn được đồng đội gắng hết sức lo vẹn toàn. Câu chuyện của ông Bảy, bà Nội và những câu chuyện trong sách chợt hiện ra khi bà Thu kể tới đây. Ông Bảy kể” có những lúc tụi ngụy nó bắt dân đi hốt xác chiến sĩ, cán bộ và cả dân. Nhìn người thân nhà mình mà không dám nhận, chỉ lặng lẽ âm thầm đem chôn, làm dấu rồi chờ giải phóng, mang về quê chôn. Không thì tụi ngụy bắt liền”  . Bà Nội kể” năm 68, trời cộng sản chết nhiều lắm, Nội không biết Hai Năng ở đâu nên cũng lo, xa thằng nhỏ từ khi nó 6 tuổi,  bà Nội sợ Hai Năng của Nội ở đâu đó trong đám xác kia. Cứ xác chở về, tụi ngụy sắp ra, là Nội lại giả đò quang gánh, đi loanh quanh, nhìn trộm,ngó cái bàn tay, bàn tay  dài, chỉ Hai Năng mới có. Rồi thở phào nhẹ nhõm.”  Rồi bọn ngụy thiệt ác, chúng phơi thây chiên sĩ lên rào thép gai, nhử đồng đội tới mang xác về. Và nghiệt ngã hơn ở hậu phương của Cộng Sản, những chính sách ác ôn như lấy vợ Cộng Sản thì được tăng lương, tăng chức.  Các ông đi tập kết ra Bắc, ở nhà, vợ và gia đình bị theo dõi khắc nghiệt. Cô Sáu tôi nghe bà Nội kể lại rằng “ các bà bị áp đi tù chính trị, bố chồng bị bắt, người thì bị nó ép lấy ngụy rồi thả bố chồng, người thì bị tụi ngụy nó banh người ra, lấy ớt pha nước, đổ căng bụng rồi thi nhau nhảy lên đạp. Nước xà bông không như bây giờ, tụi nó gang miệng đổ vô họng rồi đạp bụng tiếp. Còn đánh đập thì khỏi nói. Có bà vẫn còn sống giờ động kinh, tay chân lúc nào cũng giơ ra rồi lẩm nhẩm không khai, không khai. Những người phụ nữ ấy, hậu phương vững chắc, một lòng thay chồng báo hiếu bố mẹ chồng, ai ghi công cho?” Đặt câu hỏi rồi cô Sáu dường như tự trả lời bằng chuyện kể khác. “ có hồi cô Sáu ngủ cùng bà Nội con, ba Long về miết, mặc áo bà ba, nói tha thứ cho Nội con đi bước nữa. Muốn vô nhà mà không vô được, vẫn coi bà Nội là vợ. Ba Long nói chấp nhận đứa con gái của kẻ thù.  Bà Nội con bật dậy khóc hàng đêm rồi nói với cô Sáu. Ba Long chắc mất rồi đó con, ổng về miết, lúc áo trắng, lúc áo bà ba. Ông mà còn sống là ông thương con lắm đó. Ông cưng tụi con gái.” . Cô Sáu tiếp “ bà Nội con vì gia đình chồng nên lấy ngụy để cả gia đình không bị theo dõi, không bị hành đến nghiệt. Mà ba ruột cô Sáu, ổng ác ôn lắm, bà Nội có bầu mà đánh hoài, bữa này về lấy tiền, bữa kia về đánh. Đánh cô Sáu dã man lắm. Bà Nội con còn thương ba Long nhiều, bà nói ba Long luôn xưng mình với bà chứ không bao giờ mày tao như thằng chồng ngụy.“ Cô Sáu chảy nước mắt “ cô Sáu từ câu chuyện của má mà có cảm tình với ba Long dù chưa một lần gặp. Còn cha ruột cô Sáu, Sáu không thừa nhận.” Người em gái cùng mẹ khác cha này của ba tôi mãi đến sau này, làm Phật tử mới chịu  một lần, thắp nén nhang lên bàn thờ cha ruột. Tình cảm gia đình chiến tranh không thể chia cắt. Ba tôi và chú Tư Tài thương cô Sáu như em ruột. Đặc biệt là tình cảm, tình thương, sự chăm lo, săn sóc của chú Tư dành cho Sáu Hạnh nhiều đến mức cô Sáu bật khóc khi nhắc đến chú Tứ đã mất. “ cô Sáu thương anh Tư, xót anh Tư nhiều hơn là Sáu thương  má.” Ngay cả khi vong hồn chú Tư lên giao lưu với gia đình tại Đông Tác, câu hỏi thăm đầu tiên chú Tư  là“ Sáu Hạnh sao rồi?”.

Bà Thu thấy hơi mệt nên ngả người một lúc. Bà vẫn nói “ anh Long, anh có linh thiêng thì phù hộ cho các cháu, chỉ cho các cháu tìm mộ anh nha anh.”

Đầu giờ chiều, ông Bảy Cường nói sẽ vô xã lần nữa. Lo lắng trước cách làm ăn của mấy anh xã. Ông xã này ở ủy ban xã nói còn thứ này, ông kia còn thứ nọ, có rồi lại không, mấy công chức trẻ, người nắm cái này mà chẳng hiểu nó là cái gì. Rồi người thì nói có bản đồ mới, cũ, thông tin tùm lum cả. Chắc cũng chả tin tưởng được nhiều ắm nên Ông Bảy trước khi đi, nghĩ sao ông lại quần qua lại các ngôi mộ phía bên tay trái nghĩa trang, phía cuối, nơi có rất nhiều một liệt sĩ chưa biết tên. “tôi nhớ mang máng khoảng đây này. Xưa chỉ khoảng 20 cái mả à. Giờ sao nhiều quá.” Tôi kêu Chánh “ em, giờ em đánh dấu dãy mộ 10 cái mà ông Bảy chỉ rồi thỉnh mời ông Nội lên chỉ nha.” . Chánh tìm viên gạch rồi đánh dấu từ một đến 10 bằng số La Mã. Nó vừa đánh xong thì lại  tôi lại thấy ông Bảy cùng cô Sáu và ba tôi loanh quanh ở  vài dãy mộ phía trên cùng. “ không tôi nghĩ chỗ quanh đây nè.” Tôi và Hai Chánh chạy lên. Tôi nói “ em đánh số lại rồi lên thỉnh với chị.” Tôi lên bên lư hương trước, sắp đặt giấy tờ và văn khấn. Chánh và ba tôi lên theo. Tôi mời bà Sáu Thu ngồi gần tôi để tôi mời Nội lên. Vẫn những lời khấn cũ, Nội tôi lên rất nhanh. Tôi đập tay Chánh. “Con chào Nội.” “Ba”.  Nội gật. “Có bà Thu là bạn Nội đây Nội.” Tôi cảm nhận Nội tôi quay về phía ba và bà Thu. “ Thu hả em, Thu đâu, Thu đâu?”.  Ba tôi đưa tay bà Thu lại cho ông tôi. Bà Thu “ dạ, em đây, em đây.”  Nội tôi hiền từ hỏi tiếp “ khỏe không em?” “dạ , em khỏe”. Chánh năn nỉ bà Sáu “ bà Sáu nói Nội chỉ giùm mộ giúp tụi con đi bà Sáu.” Bà Thu nắm tay Nội tôi “ anh Long, anh thương tụi nhỏ, anh chỉ mộ anh cho các cháu nha anh. Các cháu ở tận Hà Nội vào và rày nắng mấy bữa nay rồi. Anh chỉ giùm nha anh?”. Nội tôi “ừ” khẽ khàng.  Chánh bắt chước mẹ tôi, tay ôm tay Nội, tay đỡ lưng Nội. Tôi thấy Nội gạt tay nó ra .  Chánh hỏi tiếp “ Nội, Nội, trong 10 cái mộ có số, có mộ Nội không Nội?”.  Nội tôi gật đầu. “ Cái nào hở Nội? Ngôi mộ Nội là mộ số mấy? Nội nói đi Nội.” Nội tôi cười khì khì rồi đi mất. Chánh chưng hửng. “Rồi, lại giỡn nữa, không chịu chỉ?”.

Ba tôi ngồi im re. Bà Sáu nhìn ba tôi nói “nó không giống anh Long, anh Long trầm tĩnh mà nhanh nhẹn, tháo vát lắm.”. Thằng Chánh đỡ lời” bác Hai con toàn bị uýnh, quíu lại rồi  và còn bị cho ông Nội cho ăn cặc nữa kìa, tội ở Hà Nội hỏi Nội “ ba, ba chỉ chính xác mộ ba ở chỗ nào đi ba? Ông Nội con quạu “ con cặc.”” Không chịu cất công, cứ muốn ăn ngay sao được. Mà khổ  ba tôi tính dân kỹ thuật, cứ phải chính xác nên đặt câu hỏi ấm ớ thế.

Cô Sáu nói “ trời lúc ba Long nói với cô Thu, ông nói giọng Bình Định rặc à. Còn nói bình thường với Chánh, giọng pha Hà Nội. “ Bà Thu không ngờ sẽ được gặp vong linh đồng đội nhưng cô Sáu kể lúc ông tôi gọi, bà trả lời, xúc động muốn khóc. Đây là lần đầu tiên bà gặp vong linh đồng đội nhập vào người dương, nhưng bà không hề tỏ ra sợ, mà thậm chí còn tin ngay. Sau này, nghe Chánh nói, bà ra phía sau ban Tổ Quốc Ghi Công bà khấn “ anh Long linh thiêng, mong anh phù hộ. Em giờ tiền bạc không thiếu, mà anh là bác sĩ anh biết rồi, em đau quá, anh phù hộ cho em hết bịnh nha anh.”

Tôi nói Chánh, giờ em ngắt nốt số bông (hoa cúc) mà chị Hai mang lên, em đặt lên sáu ngôi mộ ở dãy mộ dưới , rồi thỉnh Nội. Nội lại lên và lắc đầu. Vậy là mộ Nội nằm ở một trong bốn ngôi mộ còn lại. Chánh ta hỏi Nội “ Nội, vậy Nội ở bốn ngôi mộ còn lại phải không, Nội?” Nội cười khì khì.  Chánh tiếp “ thôi mà Nội đừng giỡn mà, Nội chỉ giùm con đi mà.”. Nội nói “ ai bảo mày giỡn tao trước?”. Nó vội vàng “ con xin lỗi Nội, xin lỗi Nội mà.”  Tôi thấy Nội hơi cúi xuống, nghiêng tai và nói “ nói sao tao không có nghe?” nhưng Chánh về sau kể lại lúc đó Nội nói em là “ xin lỗi sao, chưa nghe thấy?”. Lúc đó tôi cũng cảm nhận là thằng Chánh bất ngờ về “sự biết” ,  hờn dỗi của Nội nên nó xin lỗi cho có, ai dè Nội biết. Nó hoảng thật sự và mới thành tâm xin lỗi “ con xin lỗi Nội, con không dám giỡn Nội nữa. Con xin lỗi. Nội chỉ mộ giúp nha Nội.” Lúc đó Nội mới “Ừ”.  Chánh hỏi tiếp “ vậy ngôi mộ Nội số mấy ở bốn ngôi mộ kia,  mộ Nội là mộ nào? “ Nội tôi nói : “ con đặt câu hỏi khác đi con?”.  Chánh “ Nội mộ là ngôi mộ nào ở bốn ngôi đó Nội? “ Con đặt câu hỏi khác đi”. Thấy giọng Nội có vẻ hơi bực mà lúc đó tôi cũng hơi bực thằng em họ mình, hỏi gì mà dốt mà tôi không điều khiển hành vi của mình được. May sao bà Thu đỡ lời “ vậy mộ anh ở hai mộ phía trước hay sau, anh Long?”. Nội gật thật mạnh vài cái khi bà Thu nói đến hai ngôi mộ phía trước rồi đi rất nhanh, bỏ mặc thằng Chánh vẫn đang ú ớ không hiểu ý Nội muốn sao.  Nội thoát khỏi tôi rồi, tôi hơi đanh giọng với thằng em mình “ nghe nè, em chỉ đặt những câu hỏi làm sao để Nội chỉ gật hoặc lắc thôi, đừng bắt Nội trả lời nhiều hiểu không Chánh?”  Cô Sáu Hạnh thêm vào “ đúng đó, Nội con mượn xác chị Hai một lúc chứ có phải nhà ngoại cảm đâu mà ở lâu nói được.”  Mọi người bàn nhau làm dấu trên bốn ngôi mộ. Ông Bảy Cường và mọi người ngồi xem Nội tôi về mà chẳng sợ hãi gì hết. Cô Sáu lấy hoa quả trên ban thờ Hội đồng hương linh liệt sĩ định làm dấu, tôi không chịu. Tôi lấy số hoa quả và bánh chưa thắp hương đưa cho cô Sáu. Mỗi ngôi mộ tôi đặt một loại quả. Một quả táo Tàu (miền Trung gọi là trái bom), một quả cam to, vàng rực, một gam bánh  chè lam Hà Nội, một quả cam xanh. Tôi khấn mời Nội. Chánh hỏi “ mộ Nội có trái cam vàng đúng không Nội?” . Nội lắc đầu. “ Trái táo phải không Nội” Nội gật. “ Trái táo hả Nội?”. Nội tôi “ ừ”. Rồi Nội đi.  Nội tôi đi rồi, tôi hỏi Chánh, nó nói Nội kêu trái táo. Mọi người ùa xuống ngôi mộ đầu tiên, ở dãy đầu tiên, sát tường thành, cạnh ngôi trường học cấp 2. Tôi xuống, bày mứt sen, hoa quả, và thắp ba nén hương cho Nội. Ông Bảy Cường đi vào xã từ lúc nào không biết. Cô Sáu giờ đi theo vào xã sau khi biết ông Nội chỉ mộ Nội là chỗ có trái táo đặt lên.

Thằng Chánh về sau kể “ trời, Nội nói ai biểu mày giỡn tao trước,  lúc đấy em mới biết là Nội hờn nha, Nội dữ thiệt đó. “. Tôi nói “tao đã bảo mày đừng cà trớn mà, mày lại là cháu trai nữa, nghịch, phá à , ăn đòn.  Mày dám mặc cả với Nội lúc ở Hà Nội, hồi đêm mày dám tinh vi “Nội biết tay con à nha” là mày xong phim rồi còn gì.” Chánh ta từ đó cạch, không dám cà trớn. Tôi lại chợt nhớ câu “chiều như chiều vong” và thấy ba tôi ngay tính đến hoảng, dám quát cả vong là chú Tư tôi. Khi vong hồn về thì cảm giác như đang được nói chuyện với người thân, vẫn đang sống, không có sự ngăn cách thế nên ba tôi sợ Nội, không tin cố Nội đánh ba vì dám chắc “ Cố thương tao nhất trong đám cháu, không có chuyện Cố đánh” và lại nạt nộ chú Tư Tài hiền lành của tôi.

Sau vụ xin lỗi là Chánh không dám giỡn, nó ở Nha Trang lâu mà khi hỏi Nội, nó nói em nói trái Táo chứ không nó trái bom vì Nội đã quá sợ bom rồi. Tôi mến cái tính cà trờn của nó và sự quan tâm chân thành của nó tới người thân. Nó hỏi trái táo, tránh trái bom không phải vì nó sợ Nội nhầm lẫn ngôn từ hay sợ tiếng bom mà không trả lời, nó nghĩ thương Nội, trong cuộc chiến, Nội phải nghe tiếng pháo, tiếng bom đã là quá đủ, Chánh không muốn Nội phải nghe một tiếng “bom “nào nữa. Anh Hai Lúa Chánh ơi, Hai Linh nghĩ, Nội thương em nên Nội mới gợi ý “ con hỏi câu hỏi khác đi con”. Giận mà thương. Xong rồi là thôi. Đâu có để bụng lâu.

Trong lúc chờ hương và thông tin về bản đồ của xã trước khi nghĩa trang được cải táng lại, anh Sơn và dượng Sáu ngồi nói chuyện với ông trông coi nghĩa trang. Tôi thì mang hoa quả, quà bánh trên ban hội đồng hương linh các liệt sĩ ra chia cho mấy nhóc học sinh ở bên trường. Tụi nhỏ tranh nhau những gói quà nhỏ Hà Nội. Ở nghĩa trang này, bà Thu nói chắc có nhiều liệt sĩ quê ở miền Bắc. Tôi mong rằng những món quà  từ phố cổ Hà Nội, mứt sen Hàng Điếu, bột sắn, chè lam, bánh đậu xanh, chè mạn và hương Bát Sứ  sẽ làm các liệt sĩ vui lòng.

Mẹ tôi ở Hà Nội, ngày nào cũng thắp hương vòng và hai hôm nay thì cách một giờ mẹ tôi khấn và thắp thêm các nén nhang bên cạnh nhan vòng tỏa hương ấm. Kính mong Trời, Phật, hương linh tổ tiên phù hộ.

Chợt anh Sơn và dượng Sáu kêu “ nghe ông cụ trông nghĩa trang nói là dãy mộ đầu tiên, nơi có mộ đặt trái táo mới hốt về năm 2005 à, toàn mộ mới đó.”  Cô Sáu tôi vừa về tới nghe thấy hoang mang lại tất tả chạy ngược vào ủy ban nhân dân xã, quyết đè mấy thằng cha xã ra hỏi cho ra nhẽ. Thằng Chánh nhìn mặt tôi lo lo. Nó nói “ Hai đừng có lo, giờ thế này, chút nữa chờ mấy thằng xã ở ủy ban lên, xem sơ đồ coi sao?”  “Thôi vậy nè, giờ hai chị em mình thống nhất, chút nữa hỏi Nội, nếu Nội vẫn chỉ mộ có trái táo thì dù mấy thằng cha xã có chỉ ngôi mộ tuốt luốt phía dưới hay ở đâu nữa thì kệ cha tụi nó, mình vẫn cúng mộ Nội chỉ nha chị.” Tôi gật cái rụp. Kệ, tôi một lòng tin ông Nội tôi.

Tụi học sinh tò mò, đến giờ được nghỉ tiết học, ngó sang nghĩa trang, thấy người lạ, tụi nhỏ bắt đầu ùa sang nghĩa trang. Đứa thì kêu “ cô cho con hoa quả đi cô.” Tôi lấy mấy trái quả dùng làm dấu và bánh cho tụi nhỏ. Một phần quả ở hội đồng hương linh thì biếu cụ trông nghĩa trang. Ai dè tụi nhỏ càng ngày tới càng đông, cứ tò mò nhìn. Có đứa định thó phần hoa quả đang cúng Nội. Tôi nói “ đang cúng, chưa có được nha, chút nha con.”

Rồi thì mấy anh chàng xã cũng tới. Cô Sáu nói lúc cô nói mộ ba tôi ở đó , đó thì mấy anh tá hỏa kêu sao biết? “  thì ông ba nhập vào con cháu tôi.”.  Mấy anh xã nói “ đúng đó vì hai ngôi mộ nằm ở dãy đầu tiên, phía mé thành, cạnh trường học là hai ngôi mộ có từ lâu, trước khi cải táng lại nghĩa trang từ hồi trước 2003 kìa.”

Mấy anh xã ra tới nghĩa trang, ùa tới phía mộ đang được cúng. Tôi ngồi thản nhiên ăn món ăn vặt mua ở góc quán quê, kệ cho bọn trẻ nhìn tôi tò mò, nhìn mấy xã làm việc ra sao, nghe nói các chàng đi ăn giỗ mà nói là đi họp kia, tôi cứ ngồi ăn cho đến khi mấy anh xã lên tới nơi tôi ngồi. Anh chàng tên H ở Ủy ban Nhân Dân Xã lên tới, chắc thấy mặt tôi non choẹt nên chỉ mặt tôi kêu “ nó đó hả, nhập vô nó hả.”  “Vâng”, tôi đáp gọn, đứng dậy.  Anh xã như Chánh nói là lúc đó hơi sằng sằng rồi, nghĩa là hơi say say rồi. Được cái nói chuyện hương linh, anh ta tin, anh xã nói “ mấy chuyện hương linh cũng phức tạp. Cơ bản nhà mình phải tin. Cũng có người ở Hà Tây vô, có cả nhà ngoại cảm nhưng không tin nên không tìm được mộ, lại quay ra. Rồi có trường hợp hương linh chỉ, đào chu vi cách mộ ảnh mấy mét, anh chỉ và phải hốt hết, không được thiếu một chiếc răng nào. Tôi có số điện thoại của mấy nhà ngoại cảm đây.”  Tôi nói luôn, nhà tìm được rồi, giờ anh xác định đúng là hai ngôi mộ nằm sát mé thành là hai mộ cũ là em cảm ơn nhiều.”   Anh xã nói giờ cháu phải khấn sao, đưa lời khấn chú coi. Tôi đưa toàn bộ văn khấn cả tờ Nội qui tham gia khảo nghiệm hương linh các liệt sĩ, gia tiên của Liên hiệp khoa học UIA, Viện khoa học Hình Sự – Bộ Công An và Trung tâm bảo trợ RCTC cho anh xã ở ủy ban xem. Anh sửa một đôi lời. Rồi xem tôi khấn với thái độ không tin cho lắm. Cung nhờ anh gọi hiệu trưởng ra xua đám học sinh về lớp. Các em được nghỉ tiết nên cỡ khoảng ba chục em ra xem.  Tôi khấn, Nội lại lên. Do có nhiều người lạ nên khi Nội lên , Chánh hỏi,  Nội chỉ khẽ gật đầu xác nhận Nội mộ. Anh xã có vẻ không tin tưởng và nói phải có dấu hiệu gì, dấu hiệu chứng tỏ để đúng mộ chớ nhỡ nhận lầm sao. Rồi phải khấn sao cho ra ý ổng muốn ở lại đây.” Nghe hơi bực mình vì ông Nội mình, trên hết gia đình là người cần chắc ăn nhất. Cô Sáu nói đỡ “ trời, bà cô Thu hưu trí đây, từ ngoài Đông Tác, Hà Nội, ông ba toàn nói tìm thông tin từ cô Thu.”  Anh chàng xã say lỡ cớ càm ràm, giỡn “chắc bồ nhí ổng đó”. Câu nói của anh xã bị cái nhìn sắc lạnh như ý “ mày nói lại câu nữa là tao chọt vô mỏ mày liền” của tôi. Tôi bực mình quay sang nói Chánh “ em chỉ hỏi đúng Nội một lần nữa, lần cuối cùng là ngôi mộ hiện đang được cúng một gói bột sắn dây Hà Nội, một hộp mứt sen có đúng của Nội không nhé. “ Lúc khấn Nội và tập trung, tôi hơi bực mình, trong đầu nghĩ “Nội cho  thằng xã nó biết mặt đi Nội.”, tôi chưa kịp hòa mình vào Nội thì cô Sáu nói với tôi và Chánh “ con khấn Nội đi, khấn Nội là nếu đúng mộ Nội thì ba nén nhang còn vừa thắp, chỉ có 1 nhang quéo lại thôi.” Tôi chỉ kịp nghe lơ mơ là nhang quéo là nội nhập vào rồi. Chánh hỏi đúng ý tôi và thêm cả câu nói của cô Sáu. Lần này Nội gật mạnh lắm, rất mạnh vài lần và đi mạnh làm tôi dựng đứng, té ngửa người ra sau, nếu không có Chánh đỡ là tôi té ngửa dập đầu rồi. Chánh kể vậy. Do ở không gian rộng nên Nội đã khẽ thì người xung quanh càng khó nghe hơn nên Nội gật đầu mạnh và thoát khỏi xác tôi thiệt mạnh để mấy anh xã nhìn mà thấy. Nội linh thiệt. Tôi hỏi Chánh “ Nội xác nhận lại lần nữa là mộ có trái táo phải không?”.  Nó gật là tôi đi thẳng xuống, không them nhìn mấy anh xã một cái, xuống dập đầu tạ Nội tôi liền. Tôi để ảnh, thay đồ cúng mới, cúng Nội.

Khi tôi, cô Sáu và Chánh xuống mộ Nội, 1 nén nhang quéo lại, còn hai nén kia, tàn lụi dần. Khi tôi về Hà Nội, nhìn những bát hương trên ban thờ tổ tiên, nén nhang nào cũng cong, rất đẹp. Mẹ  nói, hôm con khấn tìm Nội, ở nhà, một nén nhang quéo xoắn xít lại là mẹ đã có linh cảm là tìm được Nội. Mẹ chỉ tôi xem thì cả đời tôi, thắp nhang cho Nội bao lần, chưa lần nào thấy nhang lại quéo đến thế. Xoắn tít lại.

Nội đi hay ở lại với đồng đội?

Chẳng cần hỏi vì ở Hà Nội, Nội đã ý không muốn xa đồng đội, rồi tính cách Nội, người Cộng Sản, người bác sĩ sao nỡ. Mà lần nào Nội lên cũng nhanh, lẹ, có việc thì hỏi rồi Nội đi như là ở dưới Nội bận việc, chăm sóc bệnh cho đồng đội vậy. Mấy lần hỏi ý Nội muốn ở lại nghĩa trang hay đi, khi Nội nói Nội tính, và lần ở nghĩa trang xã Nhơn Hạnh, có bà Sáu Thu, Nội không trả lời mà đi luôn. Trước khi có anh xã ra cũng như ở Hà Nội, cả nhà tôi đều thống nhất là Nội muốn ở đâu thì Nội ở đó. Có người ý muốn đưa Nội vê nghĩa trang Quy Nhơn cho gần con cháu, dễ đi viếng mộ. Tôi sùng, tôi nói “ người ta chiến đấu gian khổ, hy sinh cả cuộc đời, tụi bay là con cháu, xa cũng phải đi, ý Nội nằm tại đây để con cháu tới, thăm Nội và thắp nén nhang cho đồng đội Nội nữa, cả những người chưa biết tên và người biết tên. Như chị Hai có về cũng mang quà Hà Nội, chút ít tấm lòng và hương vị miền Bắc cho anh, cô, chú ở đây, chưa biết tên nhưng người Bắc nhiều còn có chút quà thủ đô, phố cổ. Con cháu xa cũng phải đi. Ý Nội đồng đội là vậy, mà Nội đã nằm đây  cùng đồng chí bao nhiều năm rồi còn gì. Hồi Nội chưa được chôn cất, Nội chẳng về báo bà Nội hoài đó sao. Mà vì ông Thành, vì đồng đội, Nội cõng bạn bị thương càn nên bị lọt ổ pháo phục kích, Nội hy sinh. Mà cũng vì cái tình, cái nghĩa ấy, mà hương linh ông Thành đã làm sao đó, để ông chủ vườn chỉ đồng ý cho hốt cốt ông Thành nếu người nhà ông Thành chịu hốt nốt cốt 3 người còn lại đó sao? Nhờ vậy mà giờ, sau bao nhiêu năm, vẫn tìm được mộ Nội, mà còn được chăm sóc, sửa soạn đẹp như thế này.”

Mấy anh xã chắc thấy mặt tôi non, giờ thấy tôi nói cứng, như quyết xong rồi đành nói vậy gia đình định đặt bia ra sao. “Nội em vì đồng đội, bia các liệt sĩ ở đây  giông y hệt nhau, có ngôi sao sáng như trên cờ tổ quốc soi đường, làm y chang vậy.”  Chánh ta lo nốt việc cúng và hóa tiền vàng cho Nội và đồng đội Nội. Tôi cùng ba, cô Sáu vào xã làm việc, lắp bia cho Nội vào ngày rằm tháng hai. Ngày ấy, mẹ tôi sẽ vào chăm sóc Nội, tôi sẽ ở Hà Nội, cúng mừng Nội có bia mới là nhà mới, vậy là từ đó Cố tôi, gia tiên và bạn bè Nội biết Nội ở đâu mà qua chơi rồi.  Mong Nội phù hộ thêm cho các gia đình đồng đội Nội nữa ạ.

Cuộc sống bây giờ thương mại hóa nhiều quá, người ta hay nói với nhau “ sống bằng niềm tin à.”. “Niềm tin “ là tất cả. Chúc cho  các gia đình liệt sĩ chưa biết tên may mắn như gia đình tôi. Nếu có thể giúp được gì thì gia đình luôn vui vẻ hoan nghênh. Cầu  an lành và thỉnh khấn hương linh các liệt sĩ được siêu thoát,  những anh hùng ở hậu phương là  những bà mẹ,  người vợ của những con người trung lương ấy mọi sự tốt lành. Hy vọng rằng thế hệ sau, các cháu của các liệt sĩ và gia đình mãi vững tin để các liệt sĩ được gần quê hương, gia đình và tên các liệt sĩ được biết, để thế hệ sau  đời đời nhớ ơn.

Ngày 03 tháng 04 năm 2010, mẹ tôi vừa về là khoe ngay ảnh nhà mới của Nội. Mẹ cũng chỉnh tôi luôn là “ hôm ở xã chắc phần con mệt, phần thì anh xã hơi say say nên con bực mình anh H chứ anh đấy mẹ thấy cũng nói chuyện đàng hoàng và nhiệt tình mà.”  “ chắc vậy ạ!”.

Xem ảnh mà thấy Nghĩa trang tại xã Nhơn Hạnh thật chu đáo vì hóa ra có căn nhà nho nhỏ mà tôi tưởng là  phòng ở (hoặc bảo vệ) của cụ già trông nghĩa trang lại là nơi thắp nhan cho hương linh các liệt sĩ và nơi đựng cốt của các liệt sĩ mới được đưa về.

Mẹ tôi tiếp “ anh Hùng nói là thực ra tất cả các liệt sĩ chưa biết tên, bên dưới là có cốt chứ chính ra mộ của các liệt sĩ tại xã lại chưa./.

Link download: http://www.megaupload.com/?d=OXQN2LAX

About these ads

Gửi phản hồi

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 158 other followers

%d bloggers like this: