Du Địa Ngục
Tự Trần
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật Mô Phật.
Bạch thầy.
Trước kia con là người đại ác, nhưng sớm thức tỉnh tu hành, theo Phật, Pháp, Tăng, trong lúc hành đạo, con đã trải qua bao nhiêu thử thách đắng cay. Số mình dốt nát, Kinh, Luật chẳng thông, phiền một nỗi tuổi già tu muộn. Ngoài đời khảo đảo, trong đạo mỉa mai, biết mình nghiệp nặng, kiếp trước vụng tu. Nên con có nguyện cùng mười phương chư Phật cho con được trả hết nghiệp trong một kiếp này, mong chờ kiếp sau trong sạch mà đi ngay vào đường đạo. Không còn bị oan gia dẫn dắt, nghiệp chướng kéo lôi.
Vì lời dại nguyện đắc thành, nên Diêm chúa cho bắt hồn con xuống Địa ngục để xử án. Ôi, vì mình tạo ác nên phải trả nghiệp thật quá xót xa tê tái. Nào trầm mình nơi biển lạnh, thân thể cứng đờ, nào bị bầy gà, vịt mổ đá, cắn xé tơi bời, nào nuốt lửa toàn thân lên khói, nào ngất xỉu nơi ngục thứ bảy: Vì thấy sự hình phạt quá gớm ghê, nào phải vào núi lửa ở cửa ngục thứ mười, tưởng đâu thân này ra tro mạt.
Đáng lý con phải chết luôn, nhưng ơn trên thấy chúng sanh đời mạt pháp, tội ác chập chồng không tin nhân quả, tưởng đâu chết rồi là hết, nên cho con sống lại để nói chuyện Địa ngục, hầu nhắc nhở bà con cô bác sớm thức tỉnh tu hành.
Đến khi trở về cõi thế, thân con còn phải mang câm, điếc. Thế mà lắm người nông nổi, cho con là tà đạo, dùng lời giả dối để mê hoặc chúng sanh. Như uống nước: Nóng hay lạnh tự mình biết lấy, chớ việc chánh tà lý đạo đã quá phân minh.
Con nghĩ: Đạo Phật là đạo từ bi, lòng xót thương vạn loài đang lặn hụp trong biển khổ sông mê, đồng thời tìm phương giải cứu, để tận diệt gốc Khổ cho chúng sanh. Xét vậy dù cao hay thấp dù thật hay huyền diệu, điều đồng một mục đích dẫn dắt chúng sanh đến bờ giác ngộ giải thoát.
Mô phật.
Nhưng hôm nay thầy chẳng đắn đo lời thề, gạt bỏ tiếng thị phi, cho phép con kể chuyện Địa ngục cho thầy nghe, nhờ thầy chứng minh cho con, nếu như chánh thì thầy bảo con kể để nhắc nhở bà con, cô bác tu hành, còn như tà thì thầy dạy con không nói nữa.
Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Thích nữ Huệ Hiền Kính bút.
Tục danh Cô Ba Cháo Gà.
Nằm Mộng
Nam mô A Di Đà Phật, nay tôi xin nói chuyện Địa ngục, vì người thế gian ít biết về Địa ngục được. Nhân vì tôi là người đại ác, Diêm chúa cho người bắt tôi xuống Địa ngục, hôm nay tôi đặng về đây là do một đại nguyện và nhân duyên như sau: Trở về Diêm phù này để nói cho cô, bác được rõ những tội phước của tôi như thế nào, tại sao tôi phải đi Địa ngục?
Tôi đi Địa ngục là đền tội lỗi và nhờ lục nguyện có duyên lành để nói lại cho cô, bác biết sự quả báo, phòng tránh làm việc sát sanh hại mạng, không phạm tội sa Địa ngục như tôi. Trước khi đi Địa ngục có nguyên nhân: Vì tôi là Cô Ba Cháo Gà ở chợ Vòng Nhỏ, một vùng chợ Mỹ Tho, danh từ này ai cũng đều biết. Tôi bán cháo gà một thời gian từ năm Ngọ cho đến cuối năm Mùi gần ngót 18 tháng. Ngày 16 tháng 11 rạng 17, tôi định sắp sửa nấu cháo gà. Trong đêm đó tôi nằm mộng thấy cắt cổ một con gà mà nó hiện làm người ta, khi đó tôi nói: “Ủa tại sao ông thành người ta, làm sao tôi nhúng nước sôi cho được?” Ông ấy đáp: “Mày chết! Chớ nhúng nước sôi, tao là ông nội của mày đây!” Tôi hỏi: “Ông nói tôi không tin, ông nội tôi sao lại không giống?” Ông đáp: “Giống sao được, vì hồi còn sống, ông nội sát sanh hại mạng cũng nhiều, khi chết, con cháu lại làm heo, bò, gà, vịt để lo tống táng. Cho nên ông làm thú biết bao nhiêu kiếp mà trả chưa xong, vì thay hồn đổi xác nhiều đời làm sao còn giống được mà con biết.
May nhiều đời trước có chút công tu nên được Diêm Chúa cho về bảo con cháu biết. Con ráng tu đừng sát sanh hại vật phải đọa Địa ngục như ông quá khổ sở”. Tôi hỏi “Ông nói tôi cũng chưa tin, ông tên gì?”. Ông đáp: “Ông là Huỳnh Văn Vấp, cha mày là Huỳnh Văn Thình, mày là Huỳnh Thị Nhi, con tin chưa?” Tôi đáp: “Ông nói đúng sự thật, nhưng thấy tướng mạo tôi còn nghi”. Ông bèn tiếp: “Thôi con ráng tu đi rồi biết, chớ đừng nghi, ông cho con hay, con tội lỗi rất nhiều, vì sát sanh, không những gà vịt mà thôi, cho đến trùng, dế, kiến, chuột bọ, rắn rít đều có tội hết. Con nên cố gắng tu đi, để cầu siêu cho ông với”. Đến đây đồng hồ ré, tôi giựt mình xem đúng 3 giờ khuya. Thường khi nấu cháo gà cũng giờ đó, và ngày đó lại nhầm ngày 17 tháng 11 vía phật A Di Đà. Tôi liền đem gà bán hết và không làm nghề nấu cháo gà nữa, bắt đầu ăn chay trường tụng kinh, trải 6 năm như vậy.
Chết Đi Địa Ngục Lần Thứ Nhất
Thời gian sáu, bảy năm tu cư sĩ tại gia, thường ngày tụng kinh Di Đà, Phổ Môn là niệm Phật, lần lần tụng đến kinh Địa Tạng, Pháp Hoa. Tính ra từ 17 tháng 11 năm Mùi cho đến ngày 23 tháng 4 năm Dần, khi đó vào lúc 6 giờ chiều, tôi đang ngồi niệm Phật, bỗng thấy từ đâu chẳng biết, đứng sững trước mặt tôi một vị mặt đen như than, lớn tợ mâm, bụng bự chòm hòm, muốn chụp tôi. Sợ quá tôi la oai oải, náo động cả xóm, rồi té xuống đất bất tỉnh. Bỗng nghe tiếng con kêu khóc thấy mình đang đứng trước cửa, có một số người rất đông, biết đây là người âm chứ không phải người dương, là ma quỷ gì đây, tôi không rõ. Họ đang xầm xì với nhau. Nhìn trong nhà thấy con đang ôm đầu tôi khóc và kêu: “Má, má” còn lối xóm, người đánh lưng bóp cẳng, thoa tay, cạo gió, đủ thứ. Tôi rất đau lòng biết mình đã chết, có lẽ vì công tu quá ít mà tội lỗi thì nhiều, thôi bây giờ ráng niệm Phật, xin Phật cứu độ cho, chớ không dám nhìn vào xác nữa. Khi nhìn ra ngoài niệm Phật thì thấy các vị thần đổi sắc mặt, vui vẽ kêu tôi: “Sư nữ, Sư nữ, ngài hãy bắt hơi thở đi”. Tôi suy nghĩ có lẽ là ma hay quỷ gạt mình đặng bắt hồn chớ gì, bèn nói: Các ngài làm trước rồi tôi làm sau. Khi ấy tôi thấy các vị thần đều hòa hơi thở như lúc ngồi thiền, tôi liền làm theo. Có một vị cõng tôi lên, các vị khác xách tay tôi bay bỗng lên mây hướng về phía Tây Nam lướt tới có 6 vị đi trước, 6 vị ở giữa với tôi và 6 vị đi sau trải qua mấy lớp mây rồi ra khỏi đáp xuống. Lúc ấy tôi nghe như thần nói đã tới ranh giới nước Mã lai tôi nhìn xuống cũng còn thấy nhà cửa, cây cối, ruộng vườn, kẻ qua người lại, bay một lúc nữa thì thấy biển mênh mông, những cù lao rải rác đó đây, lô nhô dưới biển tàu xuôi ngược, đèn đuốc lập lòe, vì trời đã tối. Bay một đỗi xa hơn, không còn thấy chi nữa, chỉ toàn là biển cả mênh mông, mây nước một màu bầu trời đen thẩm thật lạnh lùng khiếp sợ. Bay một lúc lâu tuyết xuống dày đặc cả mình lạnh buốt, tay chân tê cứng chịu không nổi, nên buông tay nhào xuống biển.
Khi đó chư thần vớt tôi lên đem vào đền vua được biết đây là Long Vương hỏi: Chư thần bắt hồn chúng sanh ở cõi Diêm Phù sao không bỏ trong hồ lô mà để hồn ở ngoài như vậy, đi qua biển lạnh chịu sao nổi? Lúc ấy Chư thần trả lời sao tôi nghe không rõ. Kế đó Long Vương bảo một vị rồng bề ngang độ 3 thước, bề dài hơn trăm thước và tôi cùng 18 vị thần lên lưng ngồi, Xong xuôi rồng bay tới chân núi thì dừng lại, các thần cõng tôi bay xuống. Ngọn núi to lớn vô cùng, xa xa là bể cả, được biết đây là núi Thiết Vị. Khí trời ở đây lạnh lắm, sương sa tuyết đổ, trên chót núi tuyết đóng trắng phau. Cảnh trời u ám. Có một điều lạ là khi tôi đến biển thì trời đã tối mà khi đến núi này lại thấy cảnh mờ mờ. Chư thần cõng tôi bay vòng quanh núi, đến một cửa đá rất lớn, thần gõ 3 tiếng thì cửa đá mở ra. Thần hỏi: “Sư nữ có sao không?” Tôi đáp: “Thưa ngài tôi lạnh lắm chịu không nổi”. Có một vị thần lấy ra cái y ở trong tay áo đưa tôi đắp. Các ngài cùng tôi vào trong núi thì nghe các vị thần nói: “Bồ Tát đến rồi”. Vào trong núi thấy hào quang sáng rực một vùng đầt rộng lớn bao la ở đây nghe ấm áp hơn bên ngoài. Nhìn vào trong thấy đền đài nguy nga, to lớn, trước đền hai cái tháp cao, có hai vị Bồ Tát đang ngồi ngang nhau. Hào quang tua tủa đổ hột. Tưởng mình được về tây phương, lòng mừng khấp khởi, định chạy đến chỗ Bồ Tát ngồi mà lạy.
Quả Báo
Phía ngoài hai vị Bồ Tát ngồi, sau lại có một đàn gà, vịt rất đông, còn phía trong xa là đền rồng của vua Nhứt Diện, vì thấy Bồ Tát tôi quá mừng mà không thấy đàn gà, vịt chận mình phía trước, mỗi con lớn bằng con nghé, tôi vừa đi tới nghe chúng nó nói: “Dữ hôn, chúng tôi đợi nhà ngươi từ tháng 10 năm Sửu đến tháng 4 năm Dần mới gặp. Chúng tôi được nghe Nhứt Điện Tần Quảng Vương nói nhà ngươi đã quy đầu Phật pháp mà tu hành. Nhưng trước kia nhà ngươi ỷ mạng sát hại chúng tôi, nào cắt cổ, nhổ lông, phân thay, xé thịt để đem lại sự giàu có cho mình mà chẳng chút xót thương đến loài sinh vật yếu đuối ngu khờ này. Ngày nay nhà ngươi xuống đây, chúng tôi phải phân thân trả hận”. Nói đến đó, chúng nó ào lại vây quanh, con thì mổ, con thì đá, lớp gà, lớp vịt, mổ bươi cào cấu tôi đau đớn vô cùng. Không còn chịu nổi nữa, liền té quỵ xuống, chúng nó leo lên mình nó chà, nó đạp, bươi, mổ xé, cắn nên tôi ngất đi, nhưng lạ lùng thay, tôi còn nghe văng vẳng tiếng Bồ Tát Quán Âm nói: “Này các con vật kia, hãy ngưng lại mà nghe ta nói hai điều. Điều thứ nhất, là các người tự do trả hận, nhưng tất cả đều phải đứng qua một bên, con này mổ rồi đứng qua bên kia, tới con khác mổ, như vậy mới công bình, số các ngươi là một ngàn mười một con, mà một con cứ mổ hoài, còn con khác không mổ được rồi cứ kiện thưa mãi ai ở đây mà phân xử cho nổi.
Trả thù xong rồi, tùy theo nghiệp lực của các ngươi mà đi đầu thai, con nào còn kiếp thú thì làm thú, con nào mãn kiếp được tiến lên làm người, đó là điều thứ nhất. Còn điều thứ hai là các ngươi không trả hận, để ta cứu nó sống dậy, nó sẽ tụng kinh cầu siêu cho các ngươi tiến lên làm người hết, sau này nó sẽ làm thầy các ngươi mà độ các ngươi tu hành. Trong hai điều, các ngươi muốn điều nào tùy ý, chớ luật công không ép”.
Bồ Tát nói đến đó thì chúng nó dang ra xa và không mổ nữa. Bồ Tát bảo tiếp: “Các ngươi cứ từ từ mà trả hận đi”. Các con vật trả lời: “Bây giờ tôi muốn tên này tỉnh dậy để cầu siêu cho chúng tôi được làm người, chớ mang lớp thú hoài, khổ quá!”. Bồ Tát bèn sai vị thần đem nước rưới vào mình, tôi liền tỉnh dậy. Nhớ lại mình đã cắt cổ gà, vịt quá nhiều lòng hết sức ăn năn, tôi bước tới trước mặt Bồ Tát mà lạy. Bồ Tát Quán Âm dạy rằng: “Nhờ người thức tỉnh tu hành, thọ trì kinh pháp trong 6 năm và cũng may là các con vật này nó họp lại đây kiện ngươi, xin trả thù có một lần. Bằng không, tự nhiên sau này ngươi phải đầu thai làm thú trong một ngàn mười một kiếp để thường mạng, thì biết bao giờ mới trở lại làm người mà tu hành. Vì chúng sanh mê muội, không rõ luật nhân quả, cứ tưởng chết rồi là hết, cho rằng: “Vật phải dưỡng nhơn” rồi thẳng tay sát hại, chừng khi quả báo đến thì kêu Trời, kêu đất ai cứu được. Nhà ngươi có biết các con vật ấy là chi của ngươi không?” Tôi đáp: “Bạch Bồ Tát, con chỉ biết nó chỉ là con vật thôi”. Bồ Tát nói: “Nó là Ông Bà, cha mẹ, nhiều đời, nhiều kiếp. Trước kia nó cũng sát sanh như ngươi nên phải hóa thân làm thú, nay ngươi nhìn chẳng ra nên đành tâm sát hại chúng. Ngày nay ông bà, cha mẹ của ngươi lại kiện cáo ngươi để trả thù, thế gian là trả vay vay trả như vậy đó. Chúng sanh cõi Diêm Phù ưa sát hại sinh vật cho cha mẹ, chồng con ăn bổ dưởng thân thể, hoặc bắt cá cua để nuôi cháu. Vì thương mà hại, đó là mình hại mình, hại luôn cả cha mẹ, thân quyến đều phải chịu tội chung. Bây giờ ngươi hãy tụng kinh cầu siêu cho chúng nó được tiến sanh làm người, giảng cho chúng nó nghe một bài, khuyên chúng nó ráng lo tu Phật và quy y Phật, Pháp, Tăng cho chúng nó.
Kết Án
Xong rồi, tôi trở vào đến ngay Bồ Tát, lại nghe ngài phán rằng: “Người tạo tội ác tày trời, nay dám nguyện trả xong cho một kiếp, có chịu nổi không?” “Bạch, con chịu nổi”. Bồ Tát nói: “Vậy thì vào Nhất Điện Tần Quảng Vương mà lãnh án”. Đến Nhất Điện tôi quỳ xuống nghe ngài phán án: “Tội lỗi của người rất lớn, nay ngươi nguyện trả xong trong một kiếp thì cứ khai đi”. Tôi bèn khai: “Bạch Diêm Chúa, con sát sanh vì con giết vật rất nhiều, tội cắp vì buôn bán gian xảo, tội tà dâm vì có 7 đời chồng, tội nói láo vì con nói láo hơn ai hết đã vậy mà con còn uống rượu nữa”. Nói đến đâu thì có vị phán quan giở sổ xem đến đó, kế Diêm Chúa quở: “Còn tội bán đồ lậu chợ đen sao không khai, mua một bán mười làm cho kẻ nghèo không đủ tiền mua, tội ấy như tội ăn cướp lòng độc như rắn, muốn đầy túi mình, chẳng biết thương ai”. Tôi nói: “Bạch ngài, tôi xin chịu tội”.
Nhất Điện bèn phán: “Tôi sát sanh rất nặng, theo lẽ thì phải thường mạng, nhưng hôm nay ngươi xuống đây cho chúng nó trả hận, và ngươi cầu siêu cho chúng nó như đã xong, xong còn dư báo, nếu sau này ngươi tu hành độ chúng nó thì dứt hết oan gia bằng thối thất thì phải thọ sanh thường mạng.
Nhờ lòng hiếu thảo nên nay trừ được tội gian tham và tội bán đồ lậu. Hằng ngày niệm Phật rất nhiều nên trừ được tội nói láo. Còn dâm dục tuy có tội mà không, vì đó là ngươi trả nghiệp. Vậy ngươi hãy lắng nghe ta nhắc lại tiền kiếp của ngươi: Trong 6 kiếp kia ngươi quy y theo Phật, Pháp, Tăng mà tu hành, nhưng tiếc thay, kiếp vừa qua ngươi xuất gia từ 8 tuổi cho đến 42 tuổi tu hành tinh tấn, giới hạnh thanh tịnh, độ chúng cũng đông cho nên được làm Hòa thượng, trụ trì chùa Tổ Đình vùng Phú Thọ Chợ Lớn. Nhờ công đức năm kiếp trước cho nên kiếp thứ sáu vừa qua được thông minh sáng suốt, tinh thông kinh luật luận, nên được bá tánh sùng bái, các vị tăng ni mến phục. Vì học giỏi được mọi người kính nể, người sanh cống cao ngạo mạn, tưởng mình là Phật, lấy làm tự đắc buông lung, không kềm tâm thúc ý, để tâm ý dong ruổi theo trần cảnh, giới luật buông xuôi, tâm đạo giải đãi, lòng phàm bừng dậy, đắm sắc tham tài, mới phá giới, phạm trai mà tư dâm với cô gái 20 tuổi ở gần chùa. Lấy của thường trụ mà nuôi gái tơ, dụng của Tam Bảo để mua chuộc ái tình cho đến 70 tuổi mới chết. Khi chết xuống đây phải ở địa ngục thứ chín trong 28 năm để đền tội lỗi, từ 42 đến 70 tuổi. Vì lẽ trên nên 7 đời chồng của ngươi trong kiếp này là 7 người đệ tử ruột của ngươi đi đòi nợ trong kiếp vừa qua đã cung phụng cho ngươi đủ thức ngon vật lạ. Theo lẽ kiếp này ngươi phải làm gái ở lầu xanh mà trả nợ bá gia. Nhờ ngươi sớm thức tỉnh tu hành, hồi 17 tuổi có quy y với Đại Đức Thích Hoằng Nghĩa mà ngài dậy ngươi niệm Phật và tụng chú Đại Bi. Nhờ thế mà qua khỏi nghiệp ở lầu xanh, nhưng phải chịu nghèo khổ buôn bán tảo tần để trả nợ.
Chịu Quả Báo
Nhất Điện, Tần Quảng Vương phán tiếp: Ngươi hãy nghe cho rõ lời trẫm phán: Trong lúc làm Hòa Thượng mà còn đắm sắc đàn bà nên lãnh tội đui. Đã là hàng Đại Đức trụ trì ngôi Tam Bảo mà đêm đêm sang nhà gái ăn thịt uống rượu mà miệng còn thốt câu: “Vật dưỡng nhơn”, không làm gương cho người thế, còn xúi người làm ác nên lãnh tội câm. Đã xuất gia đầu Phật còn thích nghe tiếng nỉ non êm ả của đàn bà con gái nên lãnh tội điếc. Theo lẽ kiếp này ngươi phải làm gái ở lầu xanh, kiếp thứ hai làm người đui mù, kiếp thứ ba chịu câm và điếc, nhưng ngươi biết sớm ăn năn tu hành theo Phật và cũng nhờ theo lời đại nguyện của người xin trả nghiệp trong một kiếp, thôi hãy lãnh án mà trở về dương thế làm gương cho người đời, nếu biết ăn năn cố gắng tu hành thì xuống đây sẽ định lại”. Tôi nói: ” Bạch Diêm Chúa, tội câm và điếc tôi xin lãnh, còn tội đui xin Ngài khoan hồng cho tôi”. Nhất Điện phán: “Vì nghiệp lực của ngươi Trẫm không thể nào tha thứ được, ngươi hãy đến Bồ Tát mà xin”. Nghe lời Ngài tôi bèn đến lạy Bồ Tát Quán Âm. Ngài hỏi: “Ngươi muốn sáng mắt để làm gì?” ” Bạch Bồ Tát con thấy chúng sanh nơi địa ngục quá khổ sở nên xin được sáng mắt để tụng kinh Pháp Hoa cầu nguyện cho chúng sanh mau sớm siêu rỗi”. Đức Địa Tạng nói: “Nên có lời đại nguyện phải đốt tâm”. Liền đó có một vị thần bưng cái ô như ô trầu đến quỳ trước Bồ Tát Quán Âm, vị khác đến gắp một cục lửa đem đưa tôi bảo nuốt. Thấy lửa thì sợ nhưng không dám cãi, cứ nhắm mắt, há miệng, cục lửa vừa bỏ vào miệng tôi nghe nó chạy tuốt xuống bụng, liền từ đầu đến chân phát ra lửa ngọn, cả cơ thể tôi rung động thật kinh sợ vô cùng. Khi ấy tôi hối hận nghĩ rằng: “Phải dè đừng xin, vì xin khỏi đui mà chắc phải chết”. Vừa nghĩ thế, vị thần gắp cục lửa thứ hai cho tôi nuốt, lửa cũng bốc lên dữ dội và đến cục thứ ba cũng thế. Làm cho tâm thần tôi tán loạn ngồi không muốn vững. Nghe Bồ Tát bảo: “Nghỉ một chút” tâm trí tôi lúc đó hoang mang, tay chân rụng rời. Vị thần đứng kế bảo: “Ngài ráng tỉnh tâm niệm Phật chớ còn nuốt nữa”. Tôi nghe như vậy định thế nào cũng chết, vì mình là người đại ác nên nay phải trả nghiệp thời đành phải chịu vậy. Vừa nghĩ tới đó kế vị Thần gắp cục lửa bảo tôi nuốt nữa nhưng lạ thay, tới cục lửa thứ tư này nghe trong mình không sao hết, tôi nuốt như mình ăn cơm vậy, dẫu có nuốt bao nhiêu nữa tôi cũng không sợ. Ban đầu còn đếm, một lúc không biết đã nuốt bao nhiêu. Chợt nghe Bồ Tát bảo: “Thôi cho ngươi an tọa”. Tôi liền trở lại chỗ ngồi, lạ một điều là chỗ tôi ngồi khi đi thì ghế mất. Khi ngồi thì ghế lại hiện ra. Ngồi xong có một vị thần ở phía sau bưng hộp ra hiện trước Bồ Tát Quán Âm xem và nói: “Tham, sân, si của người hãy còn, ba cục đem là chỉ lòng tham, sân, si của người đấy! Còn cục đỏ này là chỉ người sẽ sanh lên cõi trời, 36 cục trắng kia chỉ lòng trong sạch của người. Vì người quá sợ tội nên quyết chí tu hành, lòng trần không còn nghĩ đến. Như vậy cũng tốt, nhưng phải tinh tấn tu hành cho ba cục đen này, hóa trắng thì ngươi mới hoàn toàn trong sạch, và vì lời Đại nguyện nên phải khám phá Địa ngục”. Lúc ấy tôi ngẩn ngơ, tôi biết phá Địa ngục bằng cách nào? Nghe chư thần nói: “Ngài hãy dùng gươm Trí huệ mà phá”. Tôi bèn suy nghĩ bây giờ cứ cố gắng niệm Phật, liền đến lãnh ấn nơi Nhất điện cùng các chư thần đi khám phá Địa ngục.
Bảy Tầng Địa Ngục
Ngục Thứ Nhất.
Khi đó hai vị quan đi trước dẫn đầu, 2 quỷ sứ cùng 18 vị thần vào ngục. Trong ngục thứ nhất không có sự hành phạt, chỉ gồm có 4 số người:
1) Số công.
2) Số oan
3) Số ưng.
4) Số phạt.
Số công là mãn số rồi chết và cũng không tạo nghiệp sát nhơn. Số oan là kiếp trước không giết người, nhưng kiếp này bị người giết. Số ưng là vì kiếp trước giết người, nên kiếp này bị người giết lại để trả nghiệp. Còn số phạt là khi chết oan mà không chỉ theo chư thần xuống địa ngục, cứ mãi lẫn trốn ở cõi Diêm Phù tìm người trả hận, hay phá quấy người, bận cho chư thần phải quan sát, nay bị bắt xuống đây để chờ xử phạt. Đó là địa ngục thứ nhất.
Ngục Thứ Hai.
Trong ngục thứ hai cũng có bốn số như ngục thứ nhất, nhưng còn ở ngục thứ nhất là xử án, khi xử án rồi qua ngục thứ hai chờ lãnh án mà đi, hoặc được lên làm người, hoặc vào ngục khác mà chịu tội, hoặc qua ngục nhơn hiền tu thêm. Có một vị quan đi theo nói: “Nếu vong này có lòng hỷ xả, trước kia mình không giết ai, nay bị người giết, sự chết sống ở đời chỉ là giả dối, nay không hận thù, dù vong ấy có tạo tội cũng được ân xá qua cảnh nhơn hiền tu thêm, chỉ có tội ngũ nghịch không trừ được.
Còn vong nào cứ xin đi trả thù thì Nhất điện Tần quảng Vương cho quỷ sứ dẫn vào ngục ngay không xét xử, nếu chúng sanh cứ mãi gây thù kết oán thì cõi ta bà biết ngày nào dứt được chiến tranh đáng thương xót chúng sanh bị giam cầm nơi địa ngục những vong cứ mãi hận thù.
Ngục Thứ Ba.
Trong ngục thứ ba có một số người rất đông sau một thời gian bị hành phạt ở các địa ngục tùy theo tội ác của họ, nay chờ xét lại rồi lãnh án để sanh làm người hay qua cõi nhơn hiền tu thêm. Số người này lo đập gạo nấu cơm (vì hột gạo ở đây như trái dừa khô ở dương thế). Nấu xong, đem phát cho các vong ở các ngục ăn. Mỗi địa ngục rất lớn ước bằng châu thành Mỹ Tho vậy, đó là đại địa ngục. Trong một đại địa ngục chia ra làm 16 tiểu địa ngục. Mỗi địa ngục các vong hồn nhiều thôi vô số, ngồi có hàng có lớp, gục tới gục lui thật là sầu khổ.
Qua ba ngục trên tôi đều khuyên các vong niệm Phật. Tôi nói: “Tôi coi các vong ở địa ngục này như bà con, cô bác của tôi vậy. Cô bác hãy niệm Phật, có niệm Phật tôi mới được tiêu trừ, tôi bèn niệm:
Nam mô A Di Đà Phật
Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật
Nam mô tầm thinh cứu khổ cho tất cả chúng sanh nơi địa ngục này Quán Thế Âm Bồ Tát.
Nam mô Đại Nguyện Địa Tạng Vương Bồ Tát.
1 2
——————————————————————————–
Cô Ba Cháo Gà Nguyên Tác: Thích Nữ Huệ Hiền
Nhờ lời khuyên của tôi mà các vong đều niệm theo, hễ vong nào chí tâm niệm Phật, thì ra khỏi địa ngục ngay, còn vong nào cứng cỏi hay vì nghiệp chướng quá nặng nề mê muội không niệm được thì vẫn ở trong địa ngục. Nhờ thế mà trong ba ngục đầu các vong được ra rất nhiều.
Ngục Thứ Tư.
Trong ngục thứ tư hành phạt những người hủy hoại cơm gạo, đồ ăn uống, phải chịu tội khổ ăn dòi, chẳng hạn kẻ nhiều người ít. Có người một diệm kẻ một khạp, một lu lớn, cho đến kẻ nặng nhiều không kể xiết, ước nhiều như chợ Mỹ Tho vậy. Được biết tội nhân khi ăn hết dòi đó rồi, nếu còn tội khác phải đến ngục khác chịu tội, như hết thì đi đầu thai chịu quả báo xấu xa, bần cùng khổ sở.
Một số đông người vì tội nấu rượu, không biết bao nhiêu là lu, người một lu, kẻ hai lu đến 5, 6, 7 lu để dài dài ước chừng 3 cây số ngàn, hàng ngàn, hàng trăm chứ không phải đôi ba, được biết khi uống hết rượu trong lu, nếu còn tội khác thì đến ngục khác chịu hành nữa, còn như hết tội đi đầu thai làm thú hay làm người ngu dốt chẳng hạn tùy theo nghiệp.
Tôi thấy như vậy lòng chua xót vô cùng bèn khuyên các vong niệm Phật, hễ ai nghe lời niệm Phật theo tôi thì tự nhiên dòi trong khạp tiêu mất, rượu trong lu vơi cạn, vì thấy sự mầu nhiệm như thế nên nhóm này niệm Phật truyền đến nhóm khác. Tôi cũng bươn bả đi khắp nơi, vừa đi vừa niệm Phật và khuyên các vong hồn niệm Phật. Nhờ thế cửa ngục thứ tư này ra khỏi một số rất đông.
Ngục Thứ Năm.
Khi vào ngục thứ năm, ôi! Vô số người bị mang gông tra cùm, do vì tội phao phản thêm bớt, nói gian dối làm người phải bị tù đày, mang gông đi không nổi, bị quỷ sứ ở sau đánh tới, cứ một bước bị đánh một cái, đến bước không nổi, té xuống thì bị đánh liên tục bất tận đến chết đi sống lại, cũng có một số bị nhốt vào lồng sắt vì lúc còn sống bắt thú nhốt vào lồng để chơi cho vui thích, tôi cũng khuyên bà con niệm Phật, hễ ai niệm theo tôi, thì gông cùm tan rã, lồng sắt vỡ ra. Đây tôi chỉ nói sơ lược ở ngục thứ năm.
Ngục Thứ Sáu.
Vào ngục thứ sáu, được nghe tội báo ở đây là do sát sanh hại mạng để ăn uống như: Trâu, bò, heo, chó, gà, vịt, rắn, rùa,… số nào giết trâu, bò, ngựa, chó thì vít lên núi lửa, giữa núi lửa có một cột đồng rất lớn, lửa cháy hừng hực. Số nào chỉ ăn mà không giết thì vít ở ngoài cột đồng, số nào vừa ăn vừa giết thì vít ngay lên cột đồng, lửa cháy xèo xèo, mùi hôi khét xông lên. Ở đây cũng có một số người bất hiếu chửi cha mắng mẹ hoặc bỏ cha mẹ bơ vơ khổ sở, cũng bị hình phạt như vậy. Thật khó mà khuyên họ niệm Phật vì nghiệp lực quá nặng, chỉ có một số ở ngoài còn khuyên niệm Phật được. Hễ số nào niệm Phật thì ngưng hành hình, còn không niệm thì quỷ sứ cứ tiếp tục hành phạt mãi. Đi một đỗi nữa gặp một số người rất đông: Số thì giữ gà vịt, số thì giữ heo bò, dê ngựa…Tôi cũng lấy làm lạ mà nói: “Ủa? Ở địa ngực cũng có nuôi heo gà, bò dê nữa hay sao?” Có vị quan đi theo trả lời: ” Không phải, đây là những chúng sanh, khi còn sống nuôi bò dê heo gà vịt để sanh hại chớ không sát sanh. Chúng phải ở đây mà giữ số thú này, chừng nào số thú này mãn kiếp thú thì mới được đi đầu thai. Đó là chưa kể những tội khác, mà phải đến các ngục kia mà chịu tội nữa”.
Lại có một số người hay đi nghe những trò hát ca tình tứ khiêu động tình dục làm cho người say mê điên đảo, bị quỷ sứ hát lại cho các người giữ thú xem. Nếu hát được thì thôi, bằng hát không được thì quỷ sứ đập tơi bời. Có vị quan đi theo nói: “Những chúng sanh này khi còn sống được giàu sang rồi ăn xài lãng phí, phải chi chúng nó dùng tiền ấy để bố thí cho người nghèo đói hoặc in kinh, tạc tượng Phật, hoặc cúng chùa hộ quý Tăng Ni tu học thì quý báu biết bao! Lúc chết được sanh về trời hưởng phước tu thêm đặng về cảnh Niết Bàn, chớ có đâu mê muội xài phí đồng tiền vô ích mà nay phải vào địa ngục”.
Đi một đỗi nữa đến cầu Nại Hà bắt ngang qua một cái hầm rộng lớn ước chừng 5 mẫu đất, cầu thì nhỏ tròn như cây cau, ở dưới đủ các loại thú vật có từng đàn, đoạn đầu thì bầy trâu, bầy bò, bầy ngựa, bầy voi, bầy cọp, bầy rắn, kế đến là bầy gà vịt heo dê đủ loại, sau cùng là bầy chó, nếu ai giết thú nào, khi qua cầu, ngang qua bầy thú ấy do nghiệp lực tạo ác của mình mà phải té nhào xuống hố, mặt tình cho chúng nó giày bừa, đá đạp. Hễ giết voi thì bị voi dậm, giết chó thì chó xé, giết heo thì heo ủi, giết gà thì gà mổ, giết rắn thì rắn quấn… Cho đến thân thể nát nhừ hôi thúi rồi đi thường mạng, những người nào không sát hại sinh vật thì đi qua cầu được bình an, vì nhờ đã cầu siêu cho đám gà vịt rồi, khi đó có một con chó chạy theo tôi, cái thân thì người ta mà đầu chó, thấy nó tôi phát run, nó kêu: “Cô Ba, Cô Ba, tôi là chó nô đây, cô quên tôi sao?” Tôi nói: “Ủa nô mày chết lâu rồi sao còn ở đây?” Nó nói: “Tôi kiếp trước là đệ tử của thầy Giác Tân, vì lòng tham lấy của Tam bảo, nên phải làm kiếp chó để giữ chùa, kiếp tôi chưa mãn, bị một người thuốc tôi chết, tôi quyết chờ nó xuống đây, trả hận”. Tôi bèn khuyên: ” Thôi mày xin đi đầu thai đi, thù oán làm gì cho khổ, chẳng lẽ mày đợi mãi sao”. Miệng nói mà chân tôi đi riết.
Ra khỏi ngục, gặp Lục Biện, Ngài nói: “Ngươi thấy chưa, chúng nó vì tội sát sanh hại mạng mà khổ sở như vậy. Khi về cõi Diêm Phù, ráng khuyên người đừng sát sanh hại vật và cũng đừng đốt giấy tiền, vì chỉ có tội chứ không có phước”. Sơ lược như vậy.
Ngục Thứ Bảy
Khi đến Thất điện tôi nghe vua Thất điện dạy rằng: “Sư nữ của các ngươi, oai thần đã giảm, nếu vào ngục có xỉu thì nên đưa ra cấp tốc, kẻo nhiễm khí độc”. Bước vào ngục, tôi thấy tội nhơn bị quỷ sứ móc mắt, bẻ răng, cắt lỗ tai, xẻo lỗ mũi, cắt lưỡi, số người rất đông, tôi cũng còn vững tinh thần, đến chừng thấy người cậu (cậu chết tháng 2, tôi chết tháng 4) bị bẻ răng, móc ruột, máu ra lai láng, tôi xỉu luôn, chư thần liền đưa tôi ra.
Nói Chuyện Với Cậu.
Khi tỉnh lại, tôi liền xin với Thất điện cho tôi tiếp tục đi theo ngục thứ bảy, Ngài nói: “Không đặng vì oai thần của ngươi đã giảm, hãy về tu thêm”. Tôi nói: “Tôi có người cậu chết hôm tháng 2, đang chịu tội trong ngục, xin ngài cho tôi trở lại thăm”. Ngài nói: “Không được, để tôi cho quỷ sứ dẫn cậu ra”. Quỷ sứ đưa cậu ra, tôi hỏi: “Hồi đó cậu nói với tôi cậu tụng kinh Pháp Hoa 40 năm, sao nay cậu còn bị đọa vào địa ngục”. Cậu tôi trả lời: “Vì cậu nói láo nên nay mới bị hành phạt như vầy. Cậu còn cái tội khi dễ người đời, lại thêm hốt thuốc cắt cổ nữa. Vậy con về nói với thằng Khanh, thằng Chình con của cậu, phải bán hết gia sản làm chay bố thí, phóng sanh, hoặc ấn tống kinh cúng chùa mà cầu siêu cho cậu, vì của ấy là của mồ hôi nước mắt của người đời, cậu bóc lột họ nhiều quá”. Tôi nói: “Thôi cậu hãy ráng niệm Phật, khi trở về dương thế, tôi sẽ tụng kinh mà cầu siêu cho cậu, chớ con cậu dễ gì tin theo lời tôi nói”. Lúc ấy Thất Điện có phán: “Chúng sanh ở cõi Diêm phù thật quá mê muội, tưởng chết rồi là mất hết, nên thẳng tay tạo điều ác nghiệp, đến khi chết xuống địa ngục ăn năn cũng muộn. Khi về cõi Diêm phù. Trẫm có đôi lời nhắn nhủ với chúng sanh, mỗi ngày phải ráng tu một giờ, hay nửa giờ hoặc niệm Phật tụng kinh trì chú. Ngươi cũng khuyên chúng sanh đừng đốt giấy tiền mà cầu siêu cho ông bà. Nếu vậy Nhất Điện Tầng Quảng Vương đi ăn hối lộ của người thế hay sao? Muốn cho ông bà cha mẹ được siêu rỗi, phải bố thí cho kẻ nghèo đói, cúng chùa hộ Tăng Ni tu học, in kinh ấn tống, mua vật phóng sanh mà cầu siêu thì cha mẹ ông bà có chết bao nhiêu năm cũng được siêu độ”. Đến đây tôi xin kiếu Ngài để trở lại Nhất Điện.
Trở Về Nhất Điện
Khi về đến Nhất Điện, Ngài phán: “Ngươi khám phá địa ngục, thấy sự trừng phạt có công bình hay không?” Tôi đáp: “Bạch ngài, sự hành phạt rất công bình, nhưng chúng sanh tạo ác lúc nào không biết, nay thấy chúng bị hành phạt khổ sở, lòng cũng quá xót thương”. Ngài nói: “Chúng sanh khi còn sống chỉ lo cung phụng cái xác giả tạm mà gây bao tội ác: Nào sát sinh hại vật, nào cướp của giết người, lòng tham không đáy, muốn ngồi không mà hốt của thiên hạ để cho gia đình, thân tộc bè bạn vui say, cuối cùng, cái thần thức phải rơi vào địa ngục”.
Nhất Điện phán tiếp: “Thay vì nhà ngươi phải lãnh tội đui, câm, điếc mà trởû lại cõi Diêm phù trong 10 năm, nhưng nhờ công phá 7 cửa ngục mà chúng sanh được siêu độ rất nhiều, nên giảm được tội đui, chỉ còn lãnh tội câm và điếc trong vòng 3 năm rồi xuống đây sẽ định lại. Nếu tinh tấn tu hành, gia đình tu thiện, tránh sát sanh thì còn giảm nữa bằng không thì mang tật suốt đời”.
Kế ngài phán: “Nhà ngươi biết nhận tội ăn năn cải sửa, có lắm chúng sanh đến đây mà còn chối tội, trẫm bèn cho kiếng chiếu tiền ảnh thấy việc làm của mình trên trần thế, lúc ấy hết phương chối cãi, cũng có nhiều chúng sanh xin sống lại để đem của tiền bố thí cúng chùa. Nhưng xác thân của chúng đã rã rơi, đâu còn mà trở lại, vì một vong hồn xuất ra, quỷ sứ thâu nhỏ lại bỏ vào hồ lô mang xuống vua Đông Nhạc, kế giải qua Tây Nhạc, đến ngày Trẫm phân xử thì gần cả tháng lúc ấy thây thi đã rã, đâu còn mà trở lại. Nên Trẫm cho lên Nguyệt Cảnh Đài, nhìn về quê quán người thì chồng đã có vợ khác, hoặc vợ đã có chồng khác, của cải bị đám con phá tan, gia tài hao mất, tình nghĩa như đám mây bay, thấy cảnh đời như vậy gục đầu mà khóc”.
Tôi bèn nói: “Bạch ngài, tôi có thể xem các thứ ấy đặng không?” Ngài nói: “Đứa ác còn xem được, huống chi ngươi có ác có thiện”. Ngài vừa nói dứt có vị thần đem kiếng chiếu tiền ảnh ra cho tôi xem. Thật là hay quá: Lúc nào tôi làm gì nói chuyện với ai? Tính toán điều gì? đều hiện ra đầy đủ như ở cõi Diêm Phù ta coi hát vậy. Kế ngài bảo tôi nhắm mắt để lên Nguyệt Cảnh Đài, vừa mở mắt ra thì thấy mình đứng trên một tấm kiếng thật to lớn. Tôi đang nhìn qua ngó lại không biết phải xem cách nào thì bỗng có một vị cốt cách như Tiên, tóc đỏ, râu vàng bước tới. Tôi hỏi: “Ngài ở đâu đến đây?” Ông ấy đáp: “Tôi chẳng phải ở đâu, cũng chẳng phải từ đâu đến, hễ có ngài thì có ta”. Tôi nghe nói thế cũng lặng thinh. Ông bèn dẫn tôi xem về ngôi nhà của tôi thật là tỏ rõ vô cùng, thấy xác tôi nằm trên ván đó, chung quanh có bà con cô bác lân cận, cũng có thằng em của tôi ở Thủ Thừa qua thăm, con tôi nó đứng gần bên xác tôi và đang nói năng điều chi đó.
Xong rồi, người dẫn tôi xem Sài Gòn, cũng thấy nhà cửa, xe chạy, người qua kẻ lại, coi đến những đô thị trên thế giới, các đô thị này thật lộng lẫy nguy nga, lớn hơn Sài Gòn xa lắm. Tôi bèn nói: “Hay quá, thật hay quá. Xem được như vầy dẩu có chết hay sống cũng vui lòng”. Ông Tiên đáp: “Hay mà cũng chưa hay, ngài ráng tu chừng nào mà không cần đứng trên Nguyệt Cảnh Đài này mà thấy được tất cả mới thật là hay”. Đến đây ngài bảo tôi trở về, vì đã hết thời gian ấn định. Ngài vừa nói dứt câu thì thân tôi đứng ngay trước Nhất Điện. Nhất Điện bảo tôi đến lễ Bồ Tát đặng trở về cõi Diêm phù.
Trở Về Dương Thế
Khi đến lễ Bồ Tát vừa muốn bạch thì đã câm ngay. Bồ Tát khuyên: “Khi về cõi Diêm phù, ngươi nhớ lời Đại nguyện mà tinh tấn tu hành ba năm sau xuống đây xét lại”. Chư thần đưa tôi trở lại cung Long Vương, được vua Long vương cho rồng đưa qua bể lạnh, nhờ hơi rồng tôi thấy ấm áp hơn bận đi. Gần đến ranh giới loài người, rồng dừng lại, tôi cùng chư thần tạ ơn rồi bay thẳng vào nội địa. Đến nhà tôi chư thần hạ xuống vào nhà, tôi thấy cái xác của tôi nàm ngay trên ván, không cử động chi, nước da xanh mét, tôi bắt rùng mình. Trước kia tuy tôi tu hành nhưng cũng không chứng được cái hồn của mình như thế nào, ngày nay mới nhận được rõ ràng. Cái xác này là giả dối, có hồn nhập vào thì nói năng, cử động, hồn xuất ra thì cứng đờ xanh mét, rồi theo thời gian mà tan rã, chớ có chắc thật chi đâu. Vừa nghĩ thế thì thấy có một vị thần từ trong xác tôi xuất ra (đó là thần giữ xác điều hòa hơi thở, bằng không thì xác bị hoại, tôi về nhập vô không được). Các vị thần ở ngoài xô tôi nhập vào xác. Lúc còn ở ngoài xác, tôi tỉnh lắm có đâu nhức chi đâu, thế mà khi vào xác tâm hồn mê mẩn như người say ngủ, tay chân lạnh tê nặng nề. Cả mình đau nhức, một lúc nghe gân cốt trong mình chuyển, hơi thở nghe điều hòa tôi bèn mở mắt ra, thì thấy con tôi nó đứng kế bên đó. Lòng tôi buồn rười rượi, tự nhiên nước mắt chảy dài, chớ không nói năng gì được.
Một lúc lâu, tôi bàng hoàng ngồi dậy, thấy bà con đứng xung quanh, tôi chỉ lắc đầu, hai hàng nước mắt cứ tuôn rơi mà miệng không nói chi được hết. Trong mình nhức mỏi, các bắp thịt cứng đờ, cổ khô hốc. Chắc con tôi cũng khổ lắm, nhưng chẳng biết nói gì hơn, chỉ lấy mắt mà nhìn. Lúc ấy đồng hồ chỉ 12 giờ ngày 24 tháng 4 năm Dần. Trọn ngày hôm đó và liên tiếp cho đến ba bốn hôm sau, tôi ăn ngủ không được, lòng như còn hải hùng khiếp sợ, hễ nhắm mắt thì thấy Địa ngục hành hình. Con tôi nó thấy tôi quá khổ sở nên nó cầu nguyện ăn chay một tháng, để tụng kinh Địa Tạng cầu nguyện cho tôi, sau một tháng tôi cũng chưa nói được, nó không thối chí, vẫn tiếp tục ăn chay cầu nguyện. Còn tôi hễ nhớ đến chúng sanh nơi Địa ngục thì lòng đau nhói, hàng ngày tôi tụng kinh Pháp Hoa bằng mắt, bằng tâm, chớ không ra lời. Mội ngày tôi tụng một cuốn hay hai ngày một cuốn, do đó tôi và con tôi tụng luôn sáu tháng.
Xuống Địa Ngục Lần Thứ Nhì
Dần, chư thần xuống rước tôi xuống âm phủ, chư thần cõng tôi qua địa phận loài người thì có rồng chờ sẵn mà đưa ngay vào địa ngục. Hai vị Bồ Tát đã đến lúc nào, thấy hai vị Bồ Tát tôi bèn đến đãnh lễ. Bồ Tát Quán Âm phán: “Quý thay, nhà ngươi giữ tròn lời đại nguyện, về cõi Diêm phù thọ trì kinh Pháp Hoa cầu nguyện cho chúng sanh nơi địa ngục. Ta cho người biết, oai thần kinh Pháp Hoa rất lớn, và cũng nhờ ngươi đem hết thân tâm cầu nguyện nên mỗi bộ được siêu rỗ trên hai ngàn vong linh. Nhà ngươi có đứa con đại hiếu, ăn chay tụng kinh cầu nguyện cho mẹ, tội ngươi được ân xá thêm”. Ngài bèn bảo vị thần đưa tôi chung nước uống và rửa mặt. Lạ thay, rửa mặt xong thì tôi nói được. Bồ Tát nói tiếp: “Oai thần của ngươi đủ sức khám phá địa ngục, hãy đến Nhất Điện Tần Quảng Vương mà lãnh ấn”.
Tôi bèn đến Nhất Điện làm lễ lãnh ấn thì ngài hết vui mừng, từ trên ngai vàng bước xuống mà phán rằng: “Trẫm rất mừng cho Hiền Tăng, tưởng đâu 3 năm mới trở xuống nào ngờ chỉ trong 6 tháng. Ngày nay mới biết rõ tâm ngài vì thương xót chúng sanh nơi Địa ngục không quản nhọc nhằn đem hết tâm trí thọ trì kinh Pháp Hoa để cầu siêu cho chúng, bao nhiêu công đức thọ trì kinh pháp của con ngài, ngài cũng nguyện hồi hướng hết cho chúng sanh, thật quý thay! Một điều nữa, Trẫm muốn cho Hiền Tăng lãnh phần in kinh ấn tống để hộ tăng, ni, tu học và hàng Phật tử có đủ kinh sách tu hành, vậy ngài nghĩ sao?” Tôi nói: “Bạch ngài tôi không sợ khó nhọc, nhưng vì tiền tài không có xin ngài hoan hỷ cho”. Nói đến đó rồi thôi, ngài bèn đóng ấn đưa cho vị quan đặng khám phá địa ngục tiếp.
Phá Tiếp Ngục Thứ Bảy
Chư thần cõng tôi bay thẳng đến ngục thứ bảy vì các ngục kia tôi đã khám phá rồi, khi nào đến Thất Điện, Thất Điện Thái Sơn Vương cũng đón tiếp niềm nở rồi đóng ấn giao cho vị quan để vào ngục thứ bảy.
Trong ngục thứ bảy, có một số người rất đông vì tội gian dâm, đàn bà có chồng mà còn đi ngoại tình, đàn ông có vợ mà còn đi phá gái trinh hoặc gian dâm với vợ người thì bị cưa, cắt, xay giã, bầm quết xong lại bị vít ra đổ đống. Những người mưu mô kế hoạch xảo trá cho vay bạc nợ mượn bạc nát lời, hoặc làm bạc giả, chứa bài bạc, hối lộ gian tà cũng bị hành hình như vậy, chết rồi huờn sống, sống lại bị hành hình cho chết, khổ không thể tả. Khi muốn cho sống dậy quỷ sứ cầm một bình nước rưới lên đống thịt, đống thịt liền hiện hình sống dậy rồi cũng bị chặt bằm nữa. Thấy vậy lòng rất xót thương nên tôi kêu: “Hỡi các vong hồn hãy ráng niệm Phật, tôi cũng niệm Phật để cầu nguyện cho tất cả được siêu thoát, vậy các ngươi hãy niệm Phật đi. Vong nào nghe lời niệm Phật thì khỏi bị hành hình, còn vong nào không niệm thì quỷ sứ cứ tiếp tục hành hình đó là nói sơ lược.
Ngục Thứ Tám
Vào ngục thứ tám này không biết bao nhiêu tội nhơn bị hành hình khổ sở. Một cột đồng thật lớn bề tròn chừng 6 thước lửa đốt cháy rực. Quỷ sứ bắt tội nhơn ôm cột đồng, nếu không ôm chúng lấy chỉa ba đâm và vít vào. Kế là những vạc dầu sôi sắp có hàng rất nhiều, quỷ sứ bắt tội nhơn ném vào đấy, hoặc nắm lấy hai chân nhúng đầu vào vạt dầu, chết rồi huờn sống lại tiếp tục hành hình. Đây là tội mưu mô kế hoạch của kẻ loạn dâm để lấy lợi, dụ dỗ gái để đem bán ở lầu xanh, hiếp dâm đàn bà, con gái hoặc thầy thuốc hốt thuốc giết người, phá thai để lấy tiền. Hoặc ỷ giàu có phao phản hiếp đáp người rồi đem tiền chuộc tội, hoặc xúi người kiện cáo chia rẽ anh em hoặc chửi trời mắng đất khi dễ thánh thần… Tội nhơn này lại bị chim ó, bù cắt, chim ưng mổ xẻ nó ăn còn xương chất đống rồi huờn sống dậy để chịu khổ nữa. Tôi cũng có khuyên các vong niệm Phật, nhưng các vong ở đây vì tội chướng quá nặng nề nên số niệm Phật được rất ít, số nào niệm Phật thì quỷ sứ để cho ngồi nghỉ không hành phạt, còn số kia thì cứ tiếp tục hành.
Ngục Thứ Chín
Tôi cùng chư thần vào đến Cửu Điện Độ Thị Vương ân cần tiếp rước ngài phán: “Trẫm nghe có một người ở cõi Diêm phù xuống phá địa ngục, từ lâu Trẫm cũng có lòng trông, đến nay mới được hội kiến thật quý báu thay!” Tôi nói: “Bạch ngài trước kia tôi đi khám phá đến ngục thứ bảy thì trở về vì oai thần chưa đủ ngày nay khám phá tiếp, xin ngài hoan hỷ chỉ dạy cho”. Ngài nói: “Trẫm cũng đi theo nữa trước kia ngài ở ngục này 28 năm ngài còn nhớ không? Hãy vào đây nhìn xem có ai quen thuộc không?” Vừa nói vừa đi vào ngục thì hỡi ôi! Trong ngục thứ chín này toàn là quý vị tu hành một số thì quỳ trên bàn chông, vì trước kia mang lớp tu hành ỷ mình học giỏi khinh khi các vị Tăng Ni, Đại Đức giới hạnh thanh tịnh. Một số khác quỳ dưới cây đèn lưu ly mà tụng kinh, vì lãnh tụng kinh cho người đời mà tụng không đủ. Một số khác bị hành hình đủ cách như ở các ngục khác tùy theo tội nặng hay nhẹ, Cửu Điện Độ Thị Vương chỉ số bị hành phạt mà nói: “Số này mượn lớp tu hành mà phá chúng lạm dụng của thường trụ mà làm việc riêng tư phi pháp, hoặc phá giới phạm chay ở chùa mà ăn mặn, sát sanh hại vật làm gương ác cho đời, hoặc cống cao ngạo mạn khi dễ Tăng Ni thanh tịnh, hủy hoại của đàn na thí chủ, rẻ rúng Bạch y cư sĩ. Tu mà không kính Phật lại hủy phát, vọng ngữ, chưa được mà nói được, chưa chứng mà nói chứng, tưởng mình là Phật khi dễ Thánh Thần, xem thường Trời Đất cho nên ngày nay bị hành phạt như vậy.
Tôi nghe thế bèn khuyên các vong niệm Phật, tôi nói: “Kính thưa quý ngài, tôi xem quý ngài như thầy của tôi vậy, tôi biết quý ngài học giỏi hơn tôi nhiều lắm, cũng vì một chút lỗi lầm chi đó mà phạm giới, vậy hôm nay quý ngài cùng tôi niệm Phật đặng tiêu nghiệp chướng trở lại cõi Diêm phù mà tu nữa cho đến ngày thành chăn đẳng chánh giác”. Tôi khuyên như vậy đôi ba lần mà các ngài cứ gục đầu không chịu niệm Phật, cho nên Cửu Điện ngài phán tiếp: “Chúng mày thật mê muội, có người đến cứu mình mà mình không chịu cứu mình, nếu gọi đây là Tăng Ni bị hành phạt thì không đúng, mà phải gọi là nam và nữ mượn lớp đạo để phá đạo chớ đâu phải Tăng Ni. Tăng Ni thì giới hạnh thanh tịnh, Tăng Ni thì dắt chúng độ sanh, Tăng Ni thì thương yêu vạn loại, Tăng Ni thì hủy mình vì đạo pháp làm gương cho chúng sanh, Tăng Ni thì về cảnh Niết Bàn, chớ Tăng Ni nào ở nơi địa ngục! Thôi ngài cũng đừng khuyên nữa, chúng đã không sám hối tội lỗi lo niệm Phật thì để chúng nó ở đó mà chịu hành phạt. Trẫm có mấy lời khi về cõi Diêm phù nhắc lại lời Trẫm để chúng sanh thức tỉnh tu hành”. Ngài nói xong tôi bèn kiếu từ để sang ngục thứ mười.
Ngục Thứ Mười.
Vào ngục thứ mười toàn là ngạ quỉ, cái bụng lớn như trống chầu, cái đầu tựa cái nôm, cổ lại nhỏ như cổ tai lợn. Chịu đói chịu khát, lửa dữ thường phát ra cháy thân. Nhưng vì tội keo kiệt, bủn xỉn, tham lam thái hóa, một năm chúng chỉ ăn được ba ngày rằm lớn. Tôi thấy vậy quá khổ sở bèn niệm Phật: Nam mô A Di Đà Phật.
Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Nam mô Tâm thinh cứu khổ cho tất cả chúng sanh nơi địa ngục thứ mười này Quán Thế Âm Bồ Tát. Nam mô Đại Nguyện Đại Tạng Vương Bồ Tát.
Tôi niệm như vậy không ngừng ngớt chỉ thấy chúng ngóc cổ lên dòm chứ không niệm được, vì khi chúng mở miệng thì lửa từ trong miệng phát ra cháy thân. Một vị Quan nói: “Thấy chúng khổ thì cũng thương nhưng khi chúng ở cõi Diêm phù làm nhiều tội ác, nào cướp của giết người làm đủ thập ác lại còn khi dễ Phật, Pháp, Tăng không tin nhơn quả, thấy người tu hành thì ngạo ố, thấy ai bố thí thì ngạo ố, thấy ai bố thí thì mỉm môi cười lại còn chửi cha mắng mẹ, sát sanh hại vật cũng quá nhiều. Nếu cho chúng trở lại làm người thì hại chúng sanh không sao xiết kể để cho chúng làm ngạ quỷ ở nơi đây cả ngàn năm xong kiếp ngạ quỷ phải đầu thai làm thú cũng không biết bao nhiêu kiếp, mãn kiếp thú được tiến lên làm người ngu độn tối tăm. Chúng sanh mê muội một kiếp làm ác mà ngàn kiếp phải khổ đau”. Tôi thấy không sao cứu chúng được nên tôi ra khỏi ngục thứ 10.
Vào Núi Lửa
Thập Điện phán: “Nay ngài, đến ngục thứ 10 mà oai thần còn đầy đủ bây giờ phải vào núi lửa mới biết đức của người thấp”. Tôi nói: “Bạch ngài! Ở cửa ngục thứ sáu cũng có núi lửa mà không ai bảo tôi vào, sao đến đây đã phá mười ngục mà ngài còn bắt tôi vào núi lửa?” Thập Điện nói: “Núi lửa ở ngục thứ sau là để hành phạt chúng sanh ác quấy. Còn núi lửa này để thức người tu, ngài vào sẽ biết”. Tôi nghĩ: “Thôi vì mình quá ác nên đành cam chịu”. Tôi bèn quỳ xuống mà cầu nguyện: “Nay con xin nguyện cùng mười phương chư Phật chứng minh cho con, nếu như con có bổn phận về cõi Diêm Phù nói chuyện âm phủ cho người nghe mà tu hành thì vào núi lửa này vẫn bình an, còn như con thiếu phước đức thân này có tiêu hoại xin núi lửa cũng tắt theo để sau này không còn chúng sanh nào phải chịu khổ như con nữa”.
Nhìn vào núi lửa thấy cháy hực, cách xa độ trăm thước mà nóng bức vô cùng huống chi vào làm sao toàn vẹn được. Khi sắp vào núi lửa thì chư thần cũng than thở bảo: ” Núi lửa này nhiều người vào đã tiêu tan ra tro mạt”. Tôi bèn hỏi: “Quý ngài dám vào không?”. Thần nói: ” Chỉ có Phật và Bồ Tát vô được mà thôi chứ chúng ta vào cũng tiêu tan hết”. Tôi nghĩ bụng: ” dầu sao mình cũng phải vào”. Tôi bèn chạy bay vô, thế mà lạ thay! Không thấy nóng chi hết, quá mừng tôi đành đi qua, đi lại coi núi lửa bao lớn, khi vòng vào phía trong thì gặp ngay Đức Chuẩn Đế, tôi bèn quỳ xuống làm lễ. Ngài bèn kêu tôi ma nói: “Nhà ngươi vào núi lửa mà thân còn nguyên vẹn là nhờ sáu kiếp tu vừa qua chớ đâu phải công tu hành trong một kiếp này mà được. Nhà ngươi có biết tại sao kiếp này nhà ngươi ngu dốt không? Vì kiếp vừa qua ngươi xuất gia từ 8 tuổi cho đến 42 tuổi trong sạch lại học kinh, luật, luận rất giỏi rồi sanh cống cao giấu Pháp Đại thừa không chịu truyền ra cho ai biết, chỉ để riêng mình biết để người đời sùng bái. Vì vậy kiếp này phải chịu dốt nát u mê đặng đền tội giấu Pháp của Phật. Ta hỏi ngươi, tại sao Nhất Diện, ngươi không lãnh sứ mạng in kinh ấn tống?” Tôi nói: “Bạch Bồ Tát, con không phải sợ mệt nhọc vì không tiền tài làm sao dám lãnh việc lớn được”. Bồ Tát nói: “Không, ta không cần ngươi có tài sản, nếu như ngươi giữ trọn bổn phận không tham của đời, thời ta sẽ cho chư thần ủng hộ, nhà ngươi muốn chi có nấy, miễn vì Phật Pháp ngoài ra không đặng “.
Tôi bèn quỳ bạch: “Bạch Bồ Tát nếu được như vậy thì con nguyện đời đời kiếp kiếp in kinh ấn tống ủng hộ Tăng Ni mãi cho đến khi Đức Phật Di Lạc ra đời con không hề thối chuyển”. Bồ Tát nói: “Lành thay! Ngươi sẽ được như nguyện”. Tôi vừa bước lên thì ngài mất, nhìn lại núi lửa cũng không còn. Khi đó chư thần hết sức mừng rỡ bay đến tán thán không cùng. Trở lại mục ngục thứ mười, vua Thập Điện nói: “Ngài công đức rất lớn đã khám phá mười ngục cứu thoát rất nhiều chúng sanh, nay vì một đại nguyện mà tiêu tan núi lửa. Vậy còn ngục Vô Gián ngài phải khám phá luôn rồi trở lại đây xem Trẫm cho hồn đi đầu thai làm thú”.
Ngục Vô Gián
Vô Gián, ngục này lớn không thể tả, rộng như biển, cao như núi. Trong biển sâu rộng chúng sanh lặn hụp, mấu trào theo nước cuồn cuồn sôi. Vật dưới biển kỳ hình dị tướng, mỏ như sắt, răng như dao, mỏng tựa gươm rượt bắt tội nhơn cào cấu xé thây, chạy lên bị quỷ lùa xuống, kêu gào ơi ơí, thấy mà tán đởm kinh hồn. Tôi ráng niệm Phật nhưng họ không nghe tôi liền kêu lên: “Các thú dưới biển hãy lắng tai nghe tôi nói đây: Vì các ngươi bấy lâu nay tạo tội nên mới làm thú ở nơi đây, các ngươi muốn trả thù cũng chẳng ích gì, chi bằng các ngươi nên yên lặng cho vong linh bình tĩnh nghe tôi niệm Phật sẽ đặng tiến hóa làm người, chớ như vầy tôi thấy khổ sở quá!” Kêu đôi ba lần các con thú nghe lời tôi, nó bỏ lên bờ, vong hồn nào còn bình tĩnh niệm Phật cũng được lên bờ, xem hình như họ ngủ gục. Xong rồi tôi liền qua bên này có một ngục rất lớn tối đen thăm thẳm, chúng sanh trong đó đông thật đông tiếng kêu gào lạc giọng khào khào, ve ve, rần rần vậy, nói chuyện không nghe được. Không biết làm sao tôi bèn cất tiếng niệm:
Nam mô A Di Đà Phật
Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật
Nam mô cứu khổ cứu nạn Quán Thế Âm Bồ Tát
Nam mô Đại nguyện Địa Tạng Vương Bồ Tát
Địa ngục liền sáng ra, họ thấy tôi. Họ vừa thấy tôi họ ngoắc, tôi ngoắc họ và kêu: “Lại đây! Lại đây!” Khi đó lại lóng nhóng ló đầu ra, tôi liền bảo họ niệm Phật: “Tôi niệm có 4 câu mà địa ngục được sáng, vậy quý vị hãy ráng niệm Phật đi”. Khi họ niệm Phật vang lên thì cửa ngục mở tung.
Tôi lại sang địa ngục phía bên kia, đây cũng là một trong bao nhiêu ngục, ngục này là núi đá nhiều cục. Mỗi cục đá một người nằm, đá lớn người lớn, đá nhỏ người nhỏ, trên thân người có trâu đá, chó đá, ngựa đá cày bừa, cào cấu thấy ghê tởm.
Vì tội lỗi chúng sanh đây không hề hết được nhiều ngục nhiều hình tôi chỉ kể sơ lược thôi. Ở nơi địa ngục tội nhơn bị hành hình muôn lần sống, muôn lần chết không chút ngừng nghỉ gọi là vô gián vì tội ác ngũ nghịch, phải chịu quả báo như vậy.
Hồn Đi Đầu Thai Làm Thú
Bấy giờ tôi cùng chư thần trở về Thập Điện để xem vong đi đầu thai làm thú trả nghiệp. Tôi thấy quá đau lòng, một số người đông lắm đều phải sanh làm thú. Số giết trâu, giết bò, giết ngựa, giết chó, giết dê, giết heo, rắn, gà, vịt… Mỗi số đứng riêng một nhóm có hàng. Khi cho đi đầu thai quỷ sứ dẫn hồn ra sông Ứ nê nơi dòng nước đỏ, đến đó quỷ sứ múc nước đỏ cho vong uống, đương là người mà uống nước rồi hóa thú, kẻ hóa trâu, bò, người hóa ngựa, heo, dê, rắn, gà, vịt… Những vong chưa uống họ sợ quá bịt mắt không dám ngó thật là thảm thiết, quỷ sứ kéo trì, họ vừa khóc vừa uống để phải chịu mọc lông, mọc sừng… Khi hóa thú hết rồi, một số quỷ sứ rất đông cầm một cây như cây cọ chấm vào lưỡi những con vật làm cho nó không biết nói. Quỷ sứ thâu các hồn nhỏ lại để bỏ vào hồ lô đem đi đầu thai. Khi đó tôi làm liều đến trước Thập Điện mà xin tha cho họ. Thập Điện nói: “Vì nghiệp lực của chúng nó quá nặng nề nên phải chịu đầu thai đền mạng. Nhiều đời nhiều kiếp sát hại sanh mạng nhiều không kể xiết, thậm chí cho đến vật không ăn được chúng nó cũng giết rồi bỏ đi. Tội ác tày trời nên chúng nó phải đền mạng không làm sao được, không ai xin hay thay thế được, dẫu cho cha con đi nữa thì cũng tội ai nấy chịu đành như vậy”. Đến đó tôi bèn từ giã Thập Điện để trở về Nhất Điện.
Trở Về Cõi Diêm Phù Đề
Về Nhất Điện tôi đến lễ đức Địa Tạng và đức Quán Âm, Ngài nói: “Ngày nay ngươi khám Địa ngục xong hãy về nói cho người đời nghe lại và phải cố in kinh ấn tống ta hỗ trợ cho. Ngươi có tâm độ người Địa ngục, nhưng chưa bằng độ chúng sanh ở cõi Diêm phù, vì cõi đó chúng sanh còn tạo tội thì Địa ngục không ngày nào cho hết. Hôm nay ta trợ duyên cho ngươi ba chung nước để ngươi định tâm nhớ việc Địa ngục nói cho chúng sanh nghe lo đi tu hành, quy y, giữ giới ăn chay, cữ sát sanh thì không còn sa Địa ngục nữa. Trong kiếp này ngươi vì trả nghiệp nên kinh luật chẳng thông, bởi vậy không được làm thầy ai hết. Sau này ngươi cũng mở đạo, nhưng đạo của ngươi chỉ dụng Pháp “Phá Địa ngục”. Hiện nay nhơn duyên của ngươi phải theo giáo pháp Đại Thừa dùng phương tiện hóa độ chúng sanh và khuyên người chớ lầm mê đốt đồ mã để cầu siêu vô ích. Khuyên người nhớ tụng kinh niệm Phật, cữ sát sanh và in kinh ấn tống mhư vậy rất dễ tiêu nghiệp chướng sớm được giải thoát.
Gặp Thầy Tiền Kiếp
Bồ Tát nói tiếp: “Ngươi có biết Sư trưởng Minh Ngọc không? Sư trưởng Minh Ngọc là thầy của ngươi ở kiếp tu hành thứ ba, nay đang giáo hóa Ni chúng. Vậy ngươi nên tìm đến thọ giáo để hành đạo”. Tôi nói: “Bạch Đức Bồ Tát, con nguyện vâng lời dầu cho khổ sở hay trãi qua muôn ngàn kiếp con cũng không chán nản, con nguyện làm sao cho chúng sanh sớm tỉnh ngộ quay về Phật Pháp là con vui lòng” Bồ Tát nói: “Lời nguyện của ngươi sẽ thành và ngươi sẽ chứng quả”. Tôi bèn lễ Đức Bồ Tát Quán Âm và Bồ Tát Địa Tạng xong rồi đến từ giã Nhất Diện Tần Quảng Vương để trở về cõi thế. Ngài cũng khuyên tôi về ráng độ chúng sanh tu hành theo Phật
Qua Cảnh Long Vương
Tôi cùng chư thần qua cảnh Long Vương để tạ ơn ngài ba phen cho rồng đưa rước, khi vào đến đền Long Vương cung điện nguy nga, cảng trí tốt đẹp xinh tươi muôn vàn rực rở hơn cảnh địa ngục xa lắm. Đức Long Vương từ trên ngai vàng bước xuống đón chào Ngài nói: Hiền tăng nay trở lại cõi Diêm phù xin cũng vì Trẫm mà độ công chúa cn của Trẫm đang bị đọa ở cõi Diêm phù tu hành theo Phập, hiền tăng muốn cần bao nhiêu Long thần hộ trợ Trẫm sẽ giúp cho. Tôi nói: “Bạch ngài việc độ công chúa con của Trẫm đang bị đọa ở cõi Diêm phù tu hành theo Phật, Hiền tăng muốn cần bao nhiêu Long thần hộ trợ Trẫm sẽ giúp cho. Tôi nói: “Bạch ngài việc độ Công chúa tu hành tôi xin lãnh còn việc xin Long thần hộ trợ xin ngài cũng hoan hỉ tôi không dám ước mong”. Kế đó tôi cùng chư thần tạ ơn Long Vương đã ba phen cho rồng đưa rước, và kiếu từ ngài để trở về cõi thế. Đức Long Vương cùng bá quan tiễn đưa ra tận bờ biển rồi ngài cho Thần Rồng đưa chư thần cùng tôi qua biển lạnh. Khi tới ranh giới loài người, sau khi cả tạ Thần Rồng chư thần đưa tôi về nhập xác như kỳ trước, lúc ấy đúng 12 giờ ngày 13 tháng 10 năm Dần.
Thời gian tôi quên sư trưởng Minh Ngọc vì cứ lo nói chuyện Địa ngục cho đến khi có vì Thánh nữ mách bảo trên Quán Âm tu viện không yên và thiếu hụt, nhớ lại lời Bố Tát nói tôi liền tìm thầy tiền kiếp và sư trưởng Minh Ngọc thọ giáo rồi từ đó lo hiệp sức với thầy hoằng dương Phật Pháp.
Tôi cũng khuyên nhiều chị em in kinh ấn tống, nhờ sự gia hộ của Bố Tát nên được nhiều vị hảo tâm đã và đang giúp đỡ tôi làm tròn sứ mạng lớn lao ấy.
Trước khi dứt lời, tôi xin đem phước lành nầy cầu nguyện cho tất cả pháp giới chúng sanh chống quay về bờ giác.
Nam Mô Bổ Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Cô Ba Cháo Gà Nói
Thích Nhựt Long lược ký
Lời Khuyên
Lão tử nói: “Ngô hữu đại hoạn do ngô hữu thân, ngược ngô vô thân hà hoạn nhì hữu”. “Ta có hoạn lớn do ta có thân, bằng ta không thân làm gì có hoạn”.
Thật vậy, xét kỹ tội lỗi của thân người mà ghê tởm, thử nghĩ một nghiệp sát sanh mà tội lỗi tày trời như Cô Ba cháo gà, huống các tội khác: Nào là đạo tặc, dâm tà, vọng ngữ si mê còn dường nào. Nay đem một khía cạnh tội ác ra mà luận: Chúng ta có thân này, không biết bao nhiêu mạng chết chỉ nuôi có một mình thân sống này mà thôi, cái bao tử của con người là cái nghĩa địa, trong đó có chôn không biết bao nhiêu xương máu. Một bữa ăn của ta chỉ sát hại một ít sanh mạng, nhưng nhiều bữa ăn thành ngày, nhiều ngày nên tháng, nhiều tháng lên năm, rồi nhiền năm thành đời. Từ vô thỉ đến nay chúng ta sanh lên chết xuống bao nhiêu kiếp, tội sát của mỗi người to như núi, lớn tựa biển, vì vậy cho nên lâu lâu công nghiệp khiến nên giặc giã đao binh sát phạt để thanh toán nợ xương máu cho nhau.
Giặc giã đao binh khổ sở này không có thể đem đổ lỗi cho ai, không phải trời làm, đất tạo không phải ai tất cả, mà chính do chúng ta tạo nghiệp sát đã nhiều đời nhiều kiếp. Hiện nay chúng ta có mặt ở thời chiến tranh này là do nghiệp sát mà có; những người đã chết là họ đã trả nợ máu xương nhiều kiếp nhiều đời. Chúng ta còn sống trong phập phòng sợ hãi, lo âu là cũng vì nợ xương máu nhiêu đời nhiều kiếp, chúng ta còn chút phước lành tạm an lạc rồi cứ xuôi tay theo hai chiều ăn ngủ không lo tu hành thì oan gia không sớm thì muộn nó âm thầm đến.
Không phải chúng ta tạo tội rồi cứ chịu quả báo nhất định, mà theo Phật dạy chúng ta còn có phương pháp cải thiện được không khó.
1 2 3
——————————————————————————–
Cô Ba Cháo Gà Nguyên Tác: Thích Nữ Huệ Hiền
Nho có câu:
“Thế sự vô nạn sự.
Đô lai tâm bất chuyên.
Tạc sơn thông đại hải.
Phi vu đỗ thanh thiên”.
Nghĩa là:
Ở đời không có việc gì kho.
Đều do tâm không chuyên mà thôi.
Có thể đục núi thông ra biển.
Vén mây mù thấy trời xanh.
Lại có câu: “Nhứt chí động khí, nhơn định thắng thiên”.
Nghĩa là: Quyết chí thì có một năng lực mạnh,
mình định lấy nghiệp mình không phải trời làm.
1 2 3
——————————————————————————–
Cô Ba Cháo Gà Nguyên Tác: Thích Nữ Huệ Hiền
Chỉ vì chúng ta không làm, cứ xuôi tay theo định nghiệp thì thôi bằng muốn cải thiện cho khỏi tai ương, cũng như quả báo nơi địa ngục thì nên cố gắng tập ăn chay, cử sát sanh, thường ngày tụng kinh, niệm Phật nhờ Phật cầu sanh về tịnh độ chớ có trông chờ. Thân người khó đặng, Phật Pháp khó gặp, sống ngày nay khó bảo đảm ngày mai, thân như cá cạn nước, nào có vui gì mà chẳng lo tu.
Cần yếu nên xuất tiền bố thí, phóng sanh để đền bù tội trước. Vì cái mừng được sống không có mừng nào hơn, ví như có người nào bị bắt oan, sắp bị giết, thế mà nhờ lời nói nào đó được tha bỗng, thử hỏi có mừng nào hơn; loài vật tuy nhỏ nhưng khi được tha, được sống cũng mừng nhự vậy. Kinh gọi là: “Hỷ khí xung thiên”. Cái mừng động lòng trời, đem công đức phóng sanh này cầu gì mà không được.
Vậy quý vị nên làm những việc vừa kể trên nhất là phóng sanh, để cầu siêu cho ông bà, cha mẹ, thân bằng quyến thuộc, và cầu hiện tại cho gia đình được tiêu tai nạn, quốc gia được an trị, thế giới sớm hòa bình, nhân dân an lạc.
Cổ Đức có câu:
“Nhất thiết chúng sanh vô sát nghiệp.
Thập phương hà xứ động đao binh.
Gia gia hộ hộ thường tu thiện.
Thiên hạ sầu bất thái bình”.
Nghĩa là:
“Tất cả chúng sanh không nghiệp sát.
Mười phương nào có động đao binh.
Nhà nhà chốn chốn đều tu thiện.
Thiên hạ làm gì chẳng thái bình”.
Mong thay!
Thích Nhựt Long.
Cẩn chí
Du Ký Tiên Long Thiên Cảnh
Cảnh Địa Tiên
Hôm nay tôi xin tiếp tục thuật những cảnh trí thanh tịnh mà tôi đến, tận nơi, mắt thấy, tai nghe một cách tường tận (chỗ nào tôi xin nói rõ là chư thần trục hồn và đưa tôi đi, còn xác tôi thì nằm thiêm thiếp ở nhà như người sắp chết).
Trước khi thuật lại những cảnh thanh tịnh đẹp đẽ này, tôi xin nói rõ lý do mà tôi được đến. Nguyên trước kia tôi là người tội lỗi, nên phải chịu trả nghiệp (xem quyển Địa ngục ký thì rõ), sau khi đã đến tội và nhờ lời đại nguyện, tôi phá xong mười cửa ngục và ngục vô gián. Để khuyến khích tôi tinh tấn trên đường tu hành, và cũng để sau này tôi thuật lại cho đời nghe mà thêm lòng tin vững chắc. Cho nên Nhất điện Tần Quảng Vương phê chiếu chỉ cho tôi được viếng cảnh Địa Tiên, Nhơn Hiền và cảnh Long Vương trước khi về cõi thế.
Sau khi lãnh chiếu chỉ, chư thần đỡ tôi bay bỗng lên mây. Từ cảnh Địa ngục qua cảnh Địa tiên phải vượt qua biển mênh mông chỉ nhìn thấy mây và nước.
Đến nơi chư thần đáp xuống nhìn quang cảnh trí thật là xinh đẹp tưởng như cảnh trời nào vậy. Con người ở đây xinh đẹp và to lớn lạ thường. Khác hẳn người Dương thế nhỏ nhít xấu xa.
Người ở đây (phải gọi là Tiên mới đúng) không già, không chết, không bệnh tật, ốm đâu, sống với thiên nhiên, khỏi phải làm lụng nhọc nhằn vất vã, khỏi bận đến cơm ăn, áo mặc, chỗ ở chi hết. Hàng ngày chỉ lo tu hành, luân lạc nghe thuyết pháp, người tu trước dạy người tu sau, người lớn dạy người nhỏ tiếp tục truyền như vậy. Ngoài ra chỉ ngao du ngoạn cảnh, lượm ngọc, thưởng hoa. Nơi đâycó một kho báu rấy lớn không bút nào tả hết được. Ở giữa ngọc chất cao như núi, nhỏ có, lớn có, đủ màu sắc chiếu lên sáng rực một vòm trời, ngọn núi ngọc này được bao bọc bởi một dãy núi vàng, ngoài là dãy núi bạc bao bọc núi vàng như thành trì kiên cố. Tôi nghĩ bụng: “Ở đây châu ngọc chất thành núi mà chẳng ai dùng, còn ở cõi trần chỉ vì một viên ngọc nhỏ mà làm cho con người sanh tâm ác độc đến chỗ giết hại lẫn nhau thật là mê muội”.
Thấy chúng tôi đằng vân vừa đến, các vị Đại Tiên ở đây ra chào mừng tiếp rước, các ngài tưởng tôi là người ở cõi đã tạo nhiều công đức với đời sau khi mãn số được đắc quả về đây. Lúc ấy chư thần theo tôi đến trình chiếu chỉ của Nhất Điện Tần Quảng Vương, các vị Đại Tiên mới rõ tôi là người đi dạp cảnh và còn trở lại cõi Diêm phù.
Được biết thế các ngài còn tỏ ra ân cần trọng hậu, có vị Đại Tiên phán: “Từ xưa đến nay, nào có ai chết đi mà sống lại, để thuật lại cho chúng sanh biết còn nhiều cõi đẹp đẽ vững chắc muôn đời, vì thế chúng sanh ở cõi Diêm phù sống trong giả cảnh khổ đau mà nào có biết chi chi thật là tội nghiệp. Chúng mê muội quay cuồng trong giả cảnh, và ngoài giả cảnh ấy còn bao nhiêu thật cảnh tốt đẹp đạo đức đời đời. Nơi đây, nơi đây không phải khổ vì sanh, già, bệnh, chết; Không phải khổ vì thiên tai, hỏa hoạn, không phải khổ vì chiến tranh, chết chóc, không phải khổ vì đói rét bức thân. Chứng ấy chúng sanh không bám níu giả cảnh nữa mà đi tìm cảnh thật hạnh phúc này.
Nhưng cũng may thay, nay hiền tăng đã đến đây rồi. Khi trở về cõi thế, tôi xin nhắn nhủ đôi lời với người phàm tục: “Ai cũng có chơn tánh Phật, phải ráng tu hành đặng về cảnh Phật, chớ cảnh Địa Tiên này còn thấp thỏi lắm. Cảnh này cũng còn là tạm, nơi để dìu dắt những bậc hiền nhơn nhưng còn kém phước về đương đạo. Chẳng hạn những người khi còn sống ở cõi thế trọn hiếu, trọn trung, hoặc trọng tiết mà không phạm tội sát sanh hại mạng, không hủy báng Tam Bảo khi chết được về cảnh Địa Tiên, hằng ngày lo học đạo tu thêm lần lần đắc quả về cõi Trời mà lo tu nữa. Như chúng tôi đây hằng ngày khuyên bảo nhau tu hành chớ không dám giải đãi sợ bị đọa trở lại cõi Diêm phù thì khó mà tìm con đường giải thoát. Chúng tôi đây vì biết đạo nên sợ tội lỗi mà tinh tấn tu hành, còn chúng sanh ở cõi Diêm phù bị sắc, tài, danh vọng ám ảnh chẳng khác nào con vật nhỏ bị nhốt trong cái tủ tối om, nào có hay biết gì ngoài cái tủ ấy cả một bầu trời bao la quang đãng. Chúng tôi xin hướng dẫn ngài đi dạo cảnh Đại Tiên khi trở về cõi thế thuật lại và khuyến khích chúng sanh ráng lo tu hành, nếu căn cơ còn kém tu không được thì cố ăn ở sao cho phải đạo làm người đừng sát sanh hại mạng hàng ngày tới lui Tam Bảo học đạo lần lần, khi chết chư thần sẽ đem về cảnh Địa Tiên này mà học đạo tu thêm”.
Nói xong các ngài dẫn chúng tôi đi dạo cảnh. Tôi được biết vị tiên lớn nhất cai quản cõi Địa Tiên mặc áo đỏ râu vàng, chân mày bạc, cởi công. Các vị Tiên bậc trung thì mặc áo hồng hồng, y vàng lợt. Các vị tiên nhỏ thì mặc áo xanh, y trắng và không có râu. Chẳng hạn nam hay nữ ai ở động nào thì vào động đó, nói là động chớ thật ra uy nga như tháp to lớn ở cõi Diêm phù. Nhiều vị tiên ngồi thiền ở dưới những gốc cây to. Mặt đất ở đây như phalê cẩm thạch, trong sạch mát mẻ chớ không giống đất đá ở cõi Diêm phù. Nơi khác nhiều vị tiên đi kinh hành niệm Phật, nhiều chỗ ở các vị tiên tụng kinh như ở cõi Diêm phù.
Ở đây cây cối xum xuê tàn lá rậm rạp, trái đặc cây dùng không hết. Lạ một điều là trái nhiều hơn lá, phía dưới gốc cây không một trái rụng, không một chiếc lá rơi, mặt đất đâu đâu cũng bằng phẳng trong mát. Các vị tiên ở đây chỉ lo tu hành không bận tâm đến miếng ăn vật uống, mỗi tháng chỉ thọ thực 2 lần nhằm ngày 14 và ngày 30. Các vị tiên cho biết mỗi lần thọ thực như vậy no hoài không biết đói mà nghe trong thân khỏe khoắn nhẹ nhàng càng ngày càng lớn càng xinh đẹp, những người mới đắc quả mới về đây còn nhỏ nhít xấu xa nhưng vẫn đẹp hơn người cõi thế.
Các ngài dẫn tôi đi lần ra mé biển, bờ biển toàn là vàng có cục, có khối lăn lốc như đá cuội ở bờ biển cõi đời. Trên bãi biển nào cù, rồng, cua biển, rùa, rắn đủ màu sắc. Nếu chúng sanh ở cõi Diêm phù mà nhìn thấy chắc chết giấc. Một vị rồng bề dài chừng 300 thước, bề ngang độ 6 thước, một con rùa như chiếc xe hơi, con cua biển như xe bò. Dưới nước không biết bao nhiêu là cá đủ màu sắc. Cá có vẫy, cá có lông, cá có 4 mắt, cá có tay, cá có cánh, đó là chỉ nhìn sơ qua chớ không đủ thời giờ mà quan sát cho hết. Còn châu ngọc dưới biển cũng nhiều, chư tiên không có thời giờ để mà lượm, Lúc ấy có một vị tiên đi phăng phăng xuống biển, nước biển rẽ 2 bên thật là lạ, bỗng một luồng bạch quang từ dưới sẹt lên, vị tiên cuối xuống lượm lên một hột châu bèn dâng lên Đại Tiên, ngài dạy đem vào kho núi báu. Tôi thấy vậy bèn hỏi:
Bạch ngài, tại sao nơi đây không xài châu ngọc mà chứa thành núi để làm gì?
1 2
——————————————————————————–
Cô Ba Cháo Gà Nguyên Tác: Thích Nữ Huệ Hiền
Vị tiên trả lời: Ở cõi đời này không xài châu ngọc nhưng Thượng Đế phê chiếu chỉ bảo các vị tiên ở đây phải lượm ngọc để dành, sau này đem về Mỏ thi ở cõi Diêm phù tại làng Kim Sơn mà xây thành núi báu cho chúng sanh ở cõi đó dùng. Từ ngày lãnh chiếu chỉ của Thượng Đế đến nay đã ngót 600 năm, hàng ngày chư tiên phải để ra một ít thời giờ để lượm châu ngọc trong các biển chứa nơi đây ngoài ra còn một ngọn núi báu ở cõi Long Vương nữa. Khi Hiền Tăng đến đó sẽ thấy, vì ngày giờ chưa đến nên chưa đem về xứ Mỏ Thi.
Nghe ngài nói vậy tôi bèn hỏi:
Bạch ngài: Châu ngọc này chừng nào đem về xứ Mỏ Thi, mà Mỏ Thi có phải là Mỹ Tho không ngài?
Vị tiên phán:
Ngày ấy không còn xa nữa, mà cũng chẳng gần, Hiền Tăng ráng tu sẽ thấy và ráng khuyên người đời đừng tham ác thì sau này mới hưởng được.
Kế vị Đại Tiên hướng dẫn tôi đi các nơi khác (nói là đi cho dễ hiểu, chớ thật ra bay như gió, chớ không phải bước từng bước như người cõi thế) nơi nào cũng mát mẽ xinh đẹp, đâu đâu cũng có hoa quả đầy đàng, tháp vàng, tháp ngọc hào quang sáng chói, thật trí phàm không sao nói hết được.
Dạo một đỗi vị Đại Tiên mời tôi cùng chư thần dự yến viên, vị Đại Tiên dẫn chúng tôi đến trung tâm, nơi đây lầu cát nguy nga giữa một vườn hoa rực rỡ, bỗng từ đâu bàn ghế mâm trái đầy dẫy, bình chung bằng châu ngọc để theo hàng, tôi lấy làm kinh ngạc bèn nghĩ bụng: “Người đời làm lụng vất vả mới tạo tác được thứ vật kia vật nọ, thế mà muôn vật có chi bền, rốt cuộc rồi cũng đều hư hoại, thân người rồi cũng già chết nào ai sống được trăm năm. Sao bằng nơi tiên cảnh ngày tháng tiêu dao vui thú trong cảnh nước non trăng gió, cảnh đẹp người xinh, không cần nhọc nhằn tạo tác mà muốn vật sẵn dùng, không già, không chết, sống mãi muôn đời thật là sung sướng biết bao”. Vừa nghĩ thế nghe vị Đại Tiên mời tôi vào bàn dự tiệc, lúc ấy vị thần đi gần tôi bảo:
Mặc dầu vị Đại Tiên có lòng hậu đãi Hiền Tăng, nhưng Hiền Tăng đừng thọ thực vật này, vì Hiền Tăng còn trở lại cõi Diêm phù, nếu dùng của này khi Hiền Tăng trở về nhập xác no hoài không đói thì xác thân sẽ tiều tụy ốm đau làm sao tu hành được.
Lúc ấy vị Đại Tiên tiếp đãi rất trọng hậu, ngài mời mọc tôi đôi ba lần thấy nhiều trái lạ đủ màu sắc, mùi thơm ngào ngạt nhưng chỉ lấy mắt mà nhìn.
Thật ra tôi cũng muốn ăn thử một miếng cho biết, nhưng vì chư thần đã nói trước nên chẳng dám ăn. Trong lúc các vị tiên cùng chư thần vui vầy yến tiệc có một vị tiên tươi cười nói:
Tuy cảnh Địa Tiên này so với cõi Trời còn kém lắm, nhưng lấy cảnh Diêm phù mà sánh thì trăm phần không được một. Nơi cõi Diêm phù dù cho kinh thành hoa lệ tốt đẹp đến đâu cũng là giả tạo do đất đá cấu kết tạo thành. Còn nơi đây lầu cát toàn là châu ngọc, vì theo công đức tu hành cao thấp của các vị Tiên mà có lớn nhỏ xinh liïch khác nhau, cũng khỏi nhọc công xây cất, chỉ do tâm biến hóa tạo thành. Tiểu Tiên này trước kia cũng là người ở cõi Diêm phù, khi làm người, khi làm thú, khi tạo ác phải đọa vào Địa ngục đau khổ biết bao, đến khi đắc được quả tiên này nghỉ ra không biết trăm muôn ngàn kiếp phải chịu sanh tử luân hồi, sự khổ sở không bút mực nào tả hết. May nhờ được gặp minh sư dạy bảo tu hành, nhưng vì tu muộn phước ít nên chỉ đắc được quả tiên. Nay hồi tâm nghĩ lại bắt rùng mình rợn óc sợ cõi trần hơn nước sôi lửa đỏ.
Chúng sanh ở cõi Diêm phù sống say, chết ngủ, khi sống say mê danh lợi nào có lo học đạo tu tâm, khi chết thần thức mê mờ như người mê ngủ nào có biết chi chi, đành để cho nghiệp lực kéo lôi vào đường sanh tử. Chẳng khác nào như trẻ con theo mẹ nào có biết đi đâu và đến nơi nào thật là tội nghiệp. Khi Hiền tăng trở lại cõi Diêm phù, khuyên người đời ráng tu, dẩu chưa đủ phước duyên xuất gia đầu Phật vì còn phải làm việc để trả nợ đời phải tập tánh hiền lành, ăn ngay ở thật, hàng ngày tập ăn chay niệm Phật, khi chết cũng được về cảnh Địa Tiên này. Lúc ấy mới biết có trời, có Phật, có Thánh, có Thần, lúc ấy mắt, tai đều sáng mà nghe pháp tu hành. Chớ như chúng sanh ở cõi diêm phù có mắt như đui, có tai như điếc có thấy biết điều chi, Thánh Thần trước mắt nào có thấy, Pháp bảo vang dộinhư song gầm mà nào có nghe, chẳng qua vì bị trần cảnh nhận chìm, hố sâu danh lợi chôn lấp, tình luyến ái trói buộc khó lòng thoát khỏi. Ôi thôi! Sự mê mờ đau khổ của cuộc đời nói sao cho hết!.
Nghe ngài nói thế tôi ngậm ngùi chua xót cho đời và cũng cho chính mình. Sau khi yến tiệc mãn, tôi cùng chư thần kiếu các ngài để còn qua cảnh khác. đây là sơ lược cảnh Địa Tiên.
Cảnh Nhơn Hiền
Sau khi từ giã các vị Đại Tiên, chư thần dìu tôi đằng vân lên mây bay qua cảnh Nhơn Hiền. Cảnh này vẽ đẹp thua cảnh Địa Tiên, nhưng lâu đài nguy nga sang trọng mường tượng như kinh thành to lớn, nhưng các lâu đài này rời rạc uy nghiêm chớ không khít sát như thành phố cõi Diêm phù, người ở đây như bậc giàu sang ở cõi Diêm phù muốn chi có nấy, chỉ muốn là được chớ khỏi nhọc nhằn vất vả làm lụng chi cả. Người ở đây cũng không còn nạn khổ về sanh, già, bệnh, chết, hễ tu hành tinh tấn thì về cái cõi trời, còn ham vui giã đãi không chĩu tu hành thì trở lại cõi Diêm phù, nhập xác đầu thai làm người.
Tôi được chư thần cho biết, nếu người ở thế gian chỉ biết làm hiền, không hại đời, không phái đạo, sống theo nhơn đạo, hoặc tạo được chút phước mọn chi đó. Khi chết được chư thần rước về cảnh Nhơn Hiền tu thêm. Ở đây hàng ngày chỉ lo tụng kinh, niệm Phật, ngồi thiền lần hồi mới được về cõi trời. Hoặc giã khi chết có con cháu biết đạo, đem tiền bố thí, cúng chùa in kinh, tạt tượng hay mau vật phóng sanh mà hồi hương cho vong linh thì cũng được đắc quả về vời cõi trời hưởng phước.
Dẫu về được cõi Trời cũng phải tu thêm nhiều năm, nhiều kiếp (Kiếp ở đây là nói theo cõi đời, chớ các cõi khác không có sanh và tử) mới được về Tây Phương Cực Lạc của Đức Phật A Di đà. Còn nếu về trời ham vui không chịu tu hành đến ngày hết phước cũng bị đọa xuống trần gian chịu khổ nữa.
Người ở cõi Nhơn hiền đẹp và cao lớn hơn người ở cõi Diêm phù, một tháng thọ thực hai lần như cõi Địa Tiên. Hằng ngày không phải nhọc nhằn làm lụng chi tiết. Tất cả cảnh trí, cỏ cây, lầu đài đều do công đức tu hành biến hóa thành. Nơi đây khác hẳn với chúng sanh ở cõi Diêm Phù, nhọc nhằn xây dựng mà cũng không bền.
Đi dạo một vòng gặp các chư thần ở đây ra tiếp đón và hướng dẫn tôi đi dạo cảnh. Đi một lúc đến một tháp báu tôi thấy có một người nữ ngồi tụng kinh, lắng tai nghe biết là kinh Địa Tạng nhưng chẳng thấy quyển kinh. Tôi bèn hỏi: “Ở đây cũng tụng kinh nữa sao?” Người nữ đáp: “Thưa ngài, nơi đây rất cần tụng kinh để thâm nhập giáo lý của Đức Phật và để cầu siêu cho cửu huyền thất tổ. Vì ông nội tôi chết còn bị đọa nơi Địa ngục nên tôi phải tụng kinh Địa Tạng mà cầu siêu cho ông tôi.
Người dứt lời tôi xin kiếu từ để đi nơi khác. Lúc ấy nhằm giờ thọ trì kinh pháp và đi kinh hành nên không nói chuyện nhiều với ai được.
Nào tháp, nào chùa nguy nga đồ sộ, chư thần đưa tôi vào một ngôi chùa to lớn vô cùng và cho tôi biết chùa nầy có đến sáu trăm cây cột. Người trong chùa hành đủ pháp môn của Phật, ai hạp với pháp nào thì đến đó mà hành đạo, tùy theo căn cơ mỗi người, có lớp đang học có lớp đang hành, đó là sơ lược cảnh nhơn hiền
Cảnh Long Vương
Khi từ giả cõi Nhơn hiền chư thần cũng dìu tôi đằng vân qua cảnh Long Vương và được các ngài cho biết về nhiệm vụ của Đức Long Vương đối với chúng sanh ở cõi Diêm Phù.
Đức LongVương là một vị Thánh Đế, ngài là chúa tể các vị Long Vương khác ở khắp biển và sông hồ. Ngài có tất cả 17 Hoàng Tử đều làm vua Long Vương ở khắp nơi trong quả địa cầu và 5 vị Công Chúa thường gọi là Ngũ Long Công Chúa. Hiện nay, Đức Long Vương đang hướng về Phật Pháp tu hành nhường sự cai quản lại cho các Hoàng Tử.
Cảnh Long Vương có một cái hang gió, một hang nước, một hang không khí (nói là hang vì nó giống như cái hang chớ thật ra mỗi cái hang to lớn lắm, và mỗi cái lại ăn thông vào một ngọn núi khổng lồ cao ngút tận mây, bên trong là máy nhiệm màu của Trời đất). Hang gió chuyển biến bốn mùa, vì có bốn cửa xoay chuyển tuần hoàn: Xuân, Hạ, Thu, Đông cho hợp thời tiết. Hang nước luân chuyển nguồn nước biển cả cho được điều hòa. Hang không khí đổi thay khí trời cho chúng sanh mới sống được. Hiện nay con người chết yểu vì không khí nhiễm nhiều khí độc làm biến hoại phần nào không khí thiên nhiên đó là ba hang cần yếu cho con người, thú vật và cây cỏ. Cảnh Long Vương chư thần đông vô số, nào thần rồng, thần rắn, thần rùa, các chư thần này có bổn phận biến chuyển nước và không khí. Còn riêng Đại thần tức thần Long Vương lo hộ trì Phật Pháp các nơi như: Chùa, tháp, những nơi có xá lợi, có tượng Phật, có kinh pháp và hộ trì các vị đại đức tăng ni tu hành chánh pháp, nghiêm trì giới luật. Các Long thần cũng hộ trì cư sĩ giữ tròn năm giới. Người đời gọi là ông tiên hay Long thần chớ thật là Đại thần Long Vương.
Cảnh Long Vương to tát hơn cảnh Địa Tiên, nhưng vì các hang gió, hang nước, hang không khí choáng mất đi nhiều.
Tôi cùng chư thần vào yết kiến Đức Long Vương ngài vô cùng mừng rỡ bèn cho sứ giả thỉnh Hoàng Hậu đến để hướng dẫn tôi dạo cảnh.
Cảnh Long Vương vô cùng xinh đẹp chẳng thua gì cảnh Địa Tiên, trăm hoa đua nở đủ màu sắc, rồng chầu, hổ phục khắp nơi. Hoàng hậu dẫn tôi đi ngay vào cung điện của các vị Công chúa. Một vị Công chúa hiện bị đọa ở cõi Diêm phù còn 4 vị nữa điều đi tu. Cung điện rất to lớn nguy nga, châu ngọc sáng lòe, nào quạt ngọc, chiếu ngà, bình báu đủ loại, cung nữ hằng ngày vẫn còn lo săn sóc cung điện. Bốn vị đi tu nhưng thỉnh thoảng còn trở về thăm cung điện, còn riêng vị bị đọa ở cõi Diêm phù thì bịt đường không còn lui tới. Vì Đức Long Vương sợ con ngài đắm đuối cõi trần không chịu tu hành làm sao trở về ngôi cũ thì ngài sẽ hổ thẹn với trăm quan cùng mười vua thập điện. Bởi cớ ấy nên Hoàng Hậu hết sức thiết tha yêu cầu tôi cố gắng độ cho Công chúa tu hành.
Hoàng Hậu cùng tôi ra khỏi cung điện, đến bãi Rồng, Rồng lớn có, nhỏ có đủ màu sắc rất oai nghi. Nhìn một lúc bắt rùng mình, sợ quá tôi bạch cùng Hoàng Hậu xin đi nơi khác. Dọc theo bãi cát không biết bao nhiêu là rùa, con nào con nấy bằng chiếc xe hơi, nào là kỳ đà, cua biển cỡ chiếc xe bò. Hoàng Hậu dẫn tôi đến một cái hồ rộng lớn chung quanh cây cối um tùm. Dưới hồ nhiều loại cá đủ màu, Hoàng Hậu cất tiếng bảo: “Các ngươi lội cho Hiền Tăng xem”. Tự nhiên thấy cá gom lại màu nào theo màu nấy, mỗi màu thành một đoàn, đoàn này nối tiếp đoàn kia có hàng lối chỉnh tề trông rất đep mắt, như đoàn quân diễn hành tong ngày đại lễ. Mặt nước đang phẳng lặng bỗng dợn sóng ào ào. Khi chúng đua giáp vòng trở lại, chúng vọt mình lên khỏi mặt nước như reo vui chào đón.
Hoàng Hậu bảo:
Các ngươi tiếp tục diễn đi.
Tiếng Hoàng Hậu vừa dứt, thấy chúng lội đứng kết nhau thành vòng tròn, mỗi vòng một màu riêng biệt, kế những vòng tròn chuyển động, vòng sắc này lẫn lộn với vòng sắc khác như một đóa hoa khổng lồ trăm màu lẫn lộn. Thấy vậy tôi hết lời khen và nói: “Bạch Hoàng Hậu! Còn kiểu nào nữa bảo chúng làm luôn cho vui mắt”. Ngài bảo: “Các ngươi quạt nước cho êm”. Bầy cá liền nằm nghiêng trên mặt nước, con này nối đuôi con kia có dọc có hàng ngay ngắn như vải lụa đủ màu dài vô tận. Xem hoài không biết chán, thật công phu tập luyện rất nhiều, nay nhắc lại mà lòng còn vui thích. Kế Hoàng Hậu cho chúng nghỉ, chúng bèn lội lộn lại đủ màu, Hoàng Hậu phán:
Số cá này bắt ở biển đem về đây hàng ngày chư thần đến huấn luyện tập tành chúng, rồi tụng kinh chú nguyện cho chúng nó, dạy chúng nó lần đầu trong thời gian ba trăm sáu chục năm, lúc ấy cho chúng nó uống nước cam lồ rồi đọc chú thì chúng hóa thân người. Khi đã được thành người đem giáo pháp của Phật mà dạy chúng tu hành, đồng thời dạy về pháp hộ trì, đằng vân giá vỏ, khi chúng thông thuộc rồi mới cho đi độ đời đặng đắp bồi công đức. Lớp nào giỏi thì cho đi hộ trì Phật Pháp, số nào kém thì chuyển qua thần cây, thần nông, thần gió, thần nước, thần lửa…
Hễ lớp này tiến hóa lên thì bắt lớp cá khác vào hồ mà dạy nữa. Vì thế từ xưa đến nay cõi Long Vương này đào tạo không biết bao nhiêu Thần để đọ chúng sanh ở cõi Diêm Phù. Một số thần có bổn phận ghi chép điều ác, số khác ghi thiện. Một số hộ trì những vị tu hành và quan sát việc hành đạo của từng người như hàng ngày tụng kinh? Được bao nhiêu? Tu giờ nào? Nghỉ giờ nào? Niệm Phật lúc nào? Được bao nhiêu? Có nghiêm trì với luật hay không? Giữ tròn được giới đạo? Phạm giới nào rồi ghi vào sổ hàng tháng về tâu Thượng Đế. Chư thần ở cõi Diêm Phù tính ra còn đông hơn chúng sanh ở cõi ấy, nếu vị nào tu hành tinh tấn, tham thiền nhật định thì mắt thấy chư thần rõ ràng, như thấy vật ban ngày. Sở dĩ chúng sanh không nhìn thấy được chư thần vì bị sắc, tài, danh lợi làm mê mờ chơn tánh.
1 2 3
——————————————————————————–
Cô Ba Cháo Gà Nguyên Tác: Thích Nữ Huệ Hiền
Hoàng Hậu phán xong tôi liền từ giã đoàn cá và khuyên chúng tu hành, bỗng chúng ngóc đầu lên khỏi mặt nước và đồng thanh niệm: ” Nam mô Thường Tinh Tấn Bồ Tát” ba lần, làm tôi giật mình không ngờ lòai cá mà nói được, thật là lạ lùng! Làm Hòang Hậu cười xòa. Tôi thấy chúng khôn ngoan như vậy bèn dừng lại chú nguyện và Quy Y Phật, Pháp, Tăng cho chúng, trong lúc tôi quy cho chúng thấy chúng nghiêng đầu niệm Phật làm tôi cảm động vô cùng. Hoàng Hậu dẫn tôi đến một ngọn núi sáng rực hào quang tua tủa, tôi bèn hỏi:
Bạch Hoàng Hậu đó là núi chi vậy?
Hoàng Hậu đáp:
Không phải là núi mà chính là kho châu vật.
Vì vua Long Vương được chiếu chỉ của Thượng Đế phải cho thần quan sát lượm châu ngọc trong bể cá về chứa tại đây chớ lịnh Thượng Đế đem về bỏ đất Mõ thì ở cõi Diêm Phù, nay đã hơn sáu trăm năm rồi mà chưa được lịnh nên chư thần cứ tiếp tục lượm hoài. Nhưng kho này nhỏ hơn kho báu ở cõi Địa Tiên, chắc Hiền tăng đã được thấy. Kế Hoàng Hậu phán tiếp: “Khi Hiền Tăng trở lại cõi Diêm Phù khuyên chúng sanh ráng lo tu hành trong thời gian chẳng bao lâu nữa thì được hưởng của này. Bây giờ đừng tham ác làm chi mà gây tội lỗi sa vào Địa Ngục ngàn năm”.
Tôi bèn hỏi:
- Bạch ngài chừng nào chúng sanh ở cõi Diêm Phù mới được hưởng của này?
Ngài bảo:
- Cơ Trời chẳng khá nói nhiều, đến năm Quý dậu thì thành công.
Nghe vậy tôi không hỏi nữa, Ngài bèn dẫn tôi đi chung quanh kho báu, tôi thấy nào là sư tử, cọp, rắn, kỳ đà, sấu và nhiều loại thú khác nữa to lớn có sừng, có nanh trôn rất ghê sợ mà tôi không biết tên chi. Con nào con nấy quá lớn làm tôi rùng mình rởn óc, nhưng nhìn lại thấy chúng hiền lành tôi cũng vững tâm. Mỗi khi Hoàng Hậu và tôi đi ngang qua con nào thì chúng đứng lên hai chân trước chắp lại, đầu gục gặc như xá chào, miệng niệm:
Mô Phật, mô Phật!
Tôi lấy làm lạ mà hỏi:
1 2 3
——————————————————————————–
Cô Ba Cháo Gà Nguyên Tác: Thích Nữ Huệ Hiền
Nơi đây là cảnh thanh tịnh sao có thú quá nhiều?
Ngài đáp:
Đó cũng là sự tiến hóa lần lần, lớp này tiến lên làm người thì lớp khác tiến lên làm thú luôn luôn tiếp nối như vậy.
Tôi thấy lớp thú này khôn ngoan nên cũng dừng chân chú nguyện và quy y Phật Pháp Tăng cho chúng nó và khuyên chúng tinh tấn tu hành đặng sau này tiến lên làm người mà tu nữa.
Đến đó Hoàng Hậu đưa tôi về đến rồng vua Long Vương. Đức Long Vương từ trên ngai vàng bước xuống niềm nở đón chào, kế ngài phán cho trăm quan ra khỏi đền rồng truyền lệnh cho bốn vị Long thần đảo vô cho tôi xem.
Được lệnh bốn vị Long thần hiện hình rồng to lớn vọt thẳng lên mây múa lộn xem thật là đẹp mắt. Ban đầu còn thấy mình rồng rõ ràng lần lần không còn thấy nữa mà chỉ thấy như một cuộn mây lớn chuyển vận lộn nhào tới lui. Lúc ấy giông gió ào ào sóng biển trào lên có cuộn trong thật kinh thiên động địa. Các vị khác đứng xem vững vàng còn riêng tôi như muốn quay cuồng theo gió bèn hạ xuống bàn cẩm thạch mà ngồi nhưng lòng còn hãi hùng khiếp sợ không dám nhìn nữa. Thấy tôi như vậy đức Long Vương bèn truyền lệnh cho Lonh Thần ngưng đão võ. Ngài cùng Hoàng Hậu và trăm quan đưa tôi ra tận mé biển để trở lại cõi Diêm phù. Đây là sơ lược cảnh Long Vương.
Cõi Tứ Thiên Vương
Trong lúc khám phá mười ngục cùng ngục Vô gián, và trong lúc viếng cảnh Địa Tiên, Nhơn hiền cùng cảnh Long Vương, tôi cũng có chú ý tìm mẹ tôi nhưng không gặp, tôi bèn đến Nhất điện Tần Quảng Vương mà bạch:
- Bạch ngài! Tôi có người mẹ tên là Lê Thị Thêm chết ngày 18 tháng 10 năm Tý, đến nay cũng gần mãn tang, tôi cố ý kiếm tìm nhưng không gặp, xin ngài từ bi chỉ dạy cho tôi biết mẹ tôi hiện nay ở đâu?
Nhất điện Tần Quảng Vương phán:
- Cũng nhờ Hiền tăng có lòng chí hiếu, thọ trì kinh Địa Tạng hồi hướng cầu nguyện cho mẹ, nên thân mẫu của Hiền Tăng được về cõi Trời Tứ Thiên Vương hưởng phước mà cữu huyền thái tổ cũng được siêu sanh.
Nghe vậy tôi bèn quỳ xuống bạch:
- Bạch ngài! Tôi có thể về cõi trời Tứ Thiên Vương để tìm mẹ cho thỏa lòng ao ước được không?
Ngài phán:
- Quý thay! Nếu Hiền Tăng muốn đi tìm mẹ thì phải chí tâm cầu nguyện, chừng nào ơn trên ứng chứng mới được đi.
Được Nhất điện Tần Quảng Vương dạy bảo, tôi từ giả ngài để trở về cõi Diêm phù.
Chư thần đưa tôi về đến ngôi gia thì tôi nhập xác, hàng ngày tôi chí tâm cầu nguyện được về cõi Trời Tứ Thiên Vương tìm mẹ. Tôi nguyện như vậy trong thời gian ba tháng. Đến ngày 9 tháng giêng năm Mẹo. Thượng Đế Tứ Thiên Vương phê chiếu chỉ cho chư thần xuống trục hồi tôi ra khỏi xác rồi dẫn hồn tôi về thăm mẹ.
Chư thần dìu tôi bay lên mây đi được một lúc lâu nhìn xuống thấy núi non trùng điệp, đi một lúc nữa chỉ thấy mây đủ màu sắc rất đẹp mà không thấy chi nữa. Nhìn mặt trời thấy to lớn quá, các ngôi sao cũng thật lớn. Tôi định bụng chắc tại nơi đây gần mặt trời và các vì sao hơn cõi thế nên mình thấy lớn. đi một lúc lâu gặp một số Thánh thần đang đứng trên mây, các chư thần dẫn tôi đến trình chiếu chỉ. Các vị này cho đi qua và lấy làm hoan hỉ lắm.
Tôi được các vị thần cho biết đó là cửa Trời, nhưng tôi nhìn lại không thấy cửa nẽo thành trì chi hết mà chỉ thấy khoảng không mây phủ lớp lớp. Đi một lúc nữa thấy cảnh trí trang nghêm xinh đẹp hiện ra thật vô cùng rực rỡ, cây cối ngay hàng, lâu đài uy nghiêm lố nhố. Chứ thần cùng tôi hạ xuống lại trình chiếu chỉ lại một lần nữa rồi bay thẳng đến đền Rồng của Tứ Thiên Vương. Một đền Rồng to tát hiện ra, chung quanh đền đài lớp lớp đồ sộ uy nghiêm đẹp đẽ vô cùng, ánh sang đủ màu trong các đền đài tua tủa chiếu ra như ánh đèn ban đêm nơi đô thị. Nhưng ánh sang ở đây mát mẽ và suốt thấu tận các tầng mây. Mùi hương lạ ngạt ngào làm tâm hồn tôi nửa say nửa tỉnh, tiếng nhạc trời du dương trằm bổng văng vẳng từ xa vọng lại, thật cảnh thiên đường vui đẹp không cùng. Trước đền rồng có rồng chầu, hổ phục, long, lân, qui, phụng đứng có hàng. Những con vật này vừa to vừa đẹp nhiều màu sắc khác lạ cõi đời, chúng thỉnh thoảng rùng mình uốn khúc, con rờ râu mép, con vẫy đuôi múa, xem vẽ ung dung nhàn hạ lắm.
1 2 3 4
——————————————————————————–
Cô Ba Cháo Gà Nguyên Tác: Thích Nữ Huệ Hiền
Khi tôi cùng chư thần vào, chúng đồng đứng dậy đón chào. Bước vào trong tôi thấy đền rồng cao vòi vọi rộng lớn vô cùng, xây cất bằng châu báu. Người ở đây sao to lớn quá, thân tôi sánh với người cõi Trời chẳng khác nào con cóc sánh với người ở thế gian, thấy mình bé nhỏ lòng hơi khiếp sợ. Được chư thần cho biết vị Trời chánh đế cao hai mươi bốn thước, mặt y đỏ, mão đỏ, hia đỏ: Vị Trời thường cao mười hai thước, mặt áo trắng, mão trắng, hia trắng. Vị đại Tiên cao mười sáu thước. Người Tiên đẹp hơn người Trời nhưng dưới quyền Trời chánh đế. Còn các vị tiên nhỏ màu sắc đủ lọai, tùy theo cấp bậc về công đức tu hành (Tuy cao nhưng đồng thanh đồng thủ).
Thẳng vào chánh điện xa xa, một vị to lớn mặc đồ đỏ đang ngự giữa, tôi biết ngay là Trời Tứ Thiên Vương bèn cùng chư thần tiến vào bái yết tung hô (tôi đã được chư thần dạy trước). Yết kiến xong Tứ Thiên Vương phán cho ngồi, tiếng ngài sang sảng như tiếng chuông đồng, kế ngài phán:
Hiền Tăng tuy người trọng tội, nhờ lời đại nguyện phá xong mười ngục cứu độ chúng sanh cũng nhiều, đức kia rất lớn. Nay vì lòng hiếu thảo cầu xin về trời gặp mẹ trẩm cũng rộng hồng ân. Hơn nữa, trẫm cũng muốn cho Hiền tăng về trời cho biết, sau nói lại cho chúng sanh nghe đặng chúng biết có Trời, có Phật, có Thánh, có Thần, để chúng sanh khỏi lầm tưởng ngoài cõi đời không còn ai nữa rồi mặc tình làm ác mà phải sa vào địa ngục.
Nay trẫm phán đôi lời cho Hiền Tăng rõ: Chúng sanh ở cõi Diêm Phù lòng tham ác dẫy đầy, nghiệp sát sanh quá nặng, cho nên chiến tranh khói lửa không ngừng. Đã thế còn loạn dâm, hủy đạo, ngổ nghịch, bất hiếu, bất trung, mở miệng ra là cống cao ngạo mạn, chửi Trời mắng đất, khi dễ Thánh Thấn. Hàng tháng chư thần về tâu tội lỗi của chúng sanh tràn ngập, còn người thiện về cõi khác rồi cho thần lôi thần hỏa tiêu hủy thế gian đặng lập lại đời thượng cổ cho người hiền chung hưởng. Nhưng đức Quán Âm vì lòng từ bi đã bao lần ngăn cản để ngài tìm cách cứu độ chúng sanh, nếu làm như vậy thì chúng sanh chết khổ tội nghiệp.
Cũng may, hiện nay nhiều vị Bồ tát ở cõi Trời Đâu suất vì lòng độ tha nên đã giáng trần độ thế rất nhiều. Nhờ các vị Bồ Tát giảng thuyết Kinh pháp nên chúng sanh biết đường tu tỉnh, ăn chay, niệm Phật, thọ trì Kinh pháp. Trẫm phán cho Hiền Tăng rõ: “Người nào giữ trọn tam quy ngũ giới, khi chết trẫm cho kim đồng ngọc nữ rước về cõi trời Tứ Thiên Vương này hưởng phước tu thêm. Còn từ năm giới tới mười giới thì được về các cõi Trời trên, hoặc về cõi Trời Đâu suất gặp Đức Phật Di Lặc giáo hóa tu thêm. Riêng những vị Tăng Ni Đại Đức khi bổn nguyện đã viên mãn thì về ngay cõi Cực lạc của Đức Phật A Di Đà. Còn những người vào hàng Phật Tử mà phá đạo, hại đời hoặc đã xuất gia thọ giới mà phá giới, phạm trai hoặc loạn dâm, đắm sắc khi chết bị đọa vào địa ngục không biết bao nhiêu năm để đền tội.
Còn những vị mặc dầu ở tại gia nhưng một lòng vì đạo, kiến thiết chùa chiền, in kinh ấn tống, ủng hộ tăng ni tu học, đó là hàng Bồ Tát tại gia. Phước báo này đến chổ vô lậu, cứ tô bồi công đức như vậy lần lần đến quả vị Niết Bàn. Vì ủng hộ tăng ni tức bảo tồn tăng bảo thường trụ. Thay mặt đức Như Lai giáo hóa chúng sanh. In kinh ấn tống là bảo tồn pháp bảo thường trụ ở thế gian để chúng sanh nương theo kinh pháp mà tu hành. Tuy nhiên, những vị tu bồi công đức trên phải luôn luôn khiêm nhường, đừng sanh tâm cống cao ngạo mạng mà tiêu mòn phước báu đi rất uổng.
Tất cả các Đức Phật đều muốn cho chúng sanh về đất Phật, tất cả các cõi trời đều muốn cho chúng sanh đặng về trời. Thế mà chúng sanh cứ mà làm ác, lao đầu vào địa ngục, thật là mê muội. Tuy biết rằng tất cả chúng sanh đều có Phật tánh, tánh Phật ấy như hột giống vậy. Hột giống này phải được trồng trong đất đạo đức, hàng ngày phải được vun tước bằng pháp của Phật thì hột mới nẩy mầm lên cây, đơm bông kết trái Phật, tức thành Phật. Chớ như mê muội đem hột giống bỏ vào sình lầy tham ác, bỏ vào lửa đỏ bạo tàn, ngang ngược thì mọng thúi, hoặc ra tro, cuối cùng thành súc sanh ngạ quỷ chịu thống khổ nuôn đời. Trẫm phán bấy nhiêu lời Hiền Tăng cố nhớ về nói lại cho chúng sanh nghe”.
Phán xong Ngài cho hai vị Tiên nữ gọi mẹ tôi đến, sau khi bái yết tung hô xong mẹ của tôi được tự tiện hàn huyên.
Tôi không nhìn được mẹ tôi vì bà cao lớn và xinh đẹp quá, nhưng nhờ tiếng nói không đổi nên tôi nhận ra. Còn mẹ tôi vừa thấy tôi bà mừng quá chạy lại ôm tôi bà nói: “Ủa Nhi, (vì tôi tên Nhi) con cũng được về trời nữa sao, vậy thì tâu tới tứ Thiên Vương cho mẹ con mình ở chung một chỗ để cùng tu hành. Nhi ạ! ở cõi trời vui lắm, các vị Bồ Tát ở cõi trời Đâu suất thường xuống đây thuyết pháp, hào quang các ngài sáng ánh tua tủa, ban đầu mẹ tưởng là Phật, mẹ mừng quá, mẹ lạy hoài không thôi, sau nhờ các vị Tiên nói mẹ mới biết là Bồ Tát. Mẹ nhờ con biết tu hành cầu siêu cho mẹ mới được về trời, thật con có hiếu với mẹ quá, bằng không mẹ còn khổ nữa biết ngày nào được ở đây.
Mẹ ở tận núi Hoa, chổ mẹ ở đẹp hơn đây nhiều lắm, một ngày ở đây dài lắm mẹ nghe các vị Tiên cho biết bằn gmột năm ở cõi thế. Lúc mẹ chết thằng Thinh (vì em tôi tên Thinh) làm một con bò va một con heo để làm đám ma, nếu không có con cầu siêu cho chúng nó hóa thân làm người thì mẹ phải đầu thai một kiếp làm bò và một kiếp làm heo để đền mạng. Ôi! Khổ biết bao nhiêu, thằng Thinh ngu quá nó tưởng làm như vậy là báo hiếu cho mẹ, nào ngờ nó làm hại mẹ phải làm súc sanh thật là đâu đớn. Nhưng việc đã qua rồi không nhắc lại làm chi, con hãy tâu với Tứ Thiên Vương xin về ở chung với mẹ đi, ở đây tu hành vui lắm, khỏi phải làm lụng gì hết.
Mẹ con mình ráng tu rồi sẽ được trở về cõi Trời đầu suất, mẹ nghe các vị Tiên nói ở Trời Đâu suất có Phật Di Lạc, nhờ ngài giáo hóa mình tu thêm sau một thời gian lâu mới về được cõi cực lạc của Đức Phật A Di Đà. Nè! Con thấy mẹ không, lúc này mẹ đẹp lắm phải không! Hồi mẹ mới về trời cũng giống như con ngày nay thật là nhỏ nhoi xấu xí quá chừng, thôi con đừng buồn, ở đây ít lâu rồi cũng lớn đẹp như mẹ vậy. Con ạ! Ở đây cúng dường lạ lắm, hễ tâm mình muống cúng dường vị Bồ Tát đang thuyết pháp loại hoa nào tự nhiên loại hoa ấy từ trên hư không đổ xuống tua tủa như mưa thật là vui. Mới về cõi Trời mẹ tâm tưởng để cúng dường như vậy chưa được, phải tu một thời gian sau mẹ mới cúng dường bằng cách tâm tưởng sang hoa.
Cõi Trời vui lắm, để rồi con thấy mẹ không nói sai đâu. Lúc mẹ còn sống thường mở máy thâu thanh để nghe và thích nhất tuồng hát bội, nhưng ở đây các vị Tiên nữ múa hát hay gấp bội lần, còn trên hư không nhạc trời tự nhiên trỗi thật hay mẹ nóikhông hết được. Thôi con đến xin cùng tứ Thiên Vương cho mẹ con mình ở chung rồi con sẽ thấy lời mẹ nói thật, còn nữa, còn nhiều chuyện lạ nữa, đến xin đi con”. Bà nói huyên thuyên không ngừng nghỉ, vì lòng phàm còn nặng nên khi thấy mẹ tôi vui mừng kể lễ làm tôi mủi lòng nước mắt dầm dề.
1 2 3 4
——————————————————————————–
Cô Ba Cháo Gà Nguyên Tác: Thích Nữ Huệ Hiền
Chư thần bèn cho mẹ tôi biết là tôi chưa chết vì lòng hiếu thảo muốn tìm mẹ mà thôi.
Vừa lúc ấy Tứ Thiên Vương phê chiếu chỉ cho phép tôi được dạo cảnh trời, tôi cùng chư thần yết kiến Tứ Thiên Vương rồi ra khỏi đền Rồng để dạo cảnh. Cảnh trời đẹp hơn cảnh Địa Tiên rất nhiều, tiếng gió thổi, chim kêu man mác nhẹ nhàng tưởng chừng như cảnh Tây Phương. Các vị Tiên cõi lạc, cõi công bay lơ lững trên không. Tiếng ống tiêu, ống sáo nghe thâm trầm, các loại chim hạt, chim công, chim quy cùng nhiều loại chim khác nữa mà tôi không biết tên đang nhảy múa ca hát tiếng cười, làm tôi ngây ngất tâm hồn, không muốn trở lại cõi trần đầy đâu khổ.
Các vị Tiên nữ từng nhóm, từng đoàn đủ màu sặc sở đang tung tăng múa hát. Cỏ hoa xinh đẹp nhiều đóa hoa to lớn như cái mâm mùi thơm bát ngát, cây cối đầy đàn thẳng tấp, thân cây trong sáng hoa quả đặc cành, không một gợi bụi không một chiếc lá rơi, không một cành cỏ dại, đất như pha lê cẩm thạch. Lầu ngà tháp ngọc vòi vọi tận mây, gió hây hây thổi mang hương thơm ngào ngạt hòa lẩn với tiếng sáo du dương, tiếng chim ca hát, tiếng lãnh lót của các vị tiên nữ làm tâm hồn tôi ngây ngất muốn bay bổng lên tận hư không. Nghĩ lại cảnh đời đua chen xô xát mà ngán ngẩm, nghĩ đến chiến tranh ly loạn ở cõi đời mà tê tái cõi lòng. Tôi hết muốn trở lại trần gian, nhưng nhớ đến lời đại nguyện tôi nhất quyết phải trở lại cảnh diêm phù. Trước là trả xong nghiệp quả, sau cho trọn lời đại nguyện, rồi tôi từ giã mẹ tôi để trở lại đền Rồng tâu cùng Tứ Thiên Vương phê chiếu chỉ cho tôi trở về cõi thế.
Đến nơi Tứ Thiên Vương phán: “Tuy cõi trời rộng bao la, tốt đẹp vô ngần, các vị Bồ Tát ở cõi trời Đâu suất thường đến thuyết pháp dạy đạo, song chúng tiên cứ mãi say sưa trong cảnh đẹp ít chịu tu hành. Nay trẫm thỉnh Hiền Tăng đến pháp đài giảng cho chúng tiên một thời pháp về cái khổ ở thế gian và nơi địa gục, đặng chúng tiên sanh tâm lo sợ mà tinh tấn tu hành, kẻo chúng tiên cứ mãi vui chơi đến ngày hết thuốc bị đọa lại trần gian thì tội lắm! Hiền Tăng đến ngay tháp đài ở núi hoa, tháp này có mười tám tầng dành cho các vị Bồ Tát đến thuyết pháp, nhưng khi đến nơi Hiền Tăng chỉ ngồi ở tầng thứ mười thuyết một thời pháp cho chúng tiên nghe”. Được lệnh chư thần đưa tôi bay đến tháp đài. Tháp này cao vòi vọi. Không biết xây bằng thứ gì mà trong sáng lạ thường. Chung quanh tháp đài một khoảng trống mênh mông mặt đất như vàng ròng. Tôi đến ngồi ở tầng thứ mười thấy các vị tiên bốn phía từng đoàn, từng lũ đằng vân về tháp đông đảo như ngày hội.
Sau các vị Tiên ngồi theo thứ lớp, tôi nhìn xuống thấy thật có thứ tự màu áo nào ngồi theo nhóm nấy không xen lẫn lộn. Hết lớp này đến lớp khác đều đặng trang nghiêm.
Tôi bèn cất tiếng giảng về những điều khổ ở thế gian: (Ở đây tôi xin tóm lược nhựng điểm cốt yếu) nào cái khổ còn từ trong bào thai tối đen ngộp thở, nào cái khổ từ lúc mới sinh ra dại khờ ngu tối, yếu đuối sống nhờ nơi cha mẹ, nào cái khổ khi lớn lên tạo lập gia đình, lam lũ nhọc nhằn, đổ mồ hô, sôi nước mắt mới có miếng ăn, áo mặc, nhà ở. Nào những lúc bệnh tật ốm đau dày vò, nào những lúc già yếu, chân mỏi, da dùn, mắt lờ, tai điếc. Nào khi chết bức khổ than tâm. Còn bao nhiêu cái khổ thiên tai, hỏa hoạn, cái khổ về chiến tranh tàn phá, chết chóc, đến những cái khổ về tù đày, sanh ly tử biệt. Kế tôi nói về sự đâu khổ ở địa ngục.
Lúc ấy tôi thấy các vị Tiên nơm nớp lo sợ. Sau khi tôi giảng xong các vị Tiên tụ tập từng nhóm bàn tán với nhau, thấy vậy tôi bèn lân la với các vị Tiên, các ngài nói: “Nếu không có Hiền Tăng nói rõ về cảnh khổ ở thế gian chúng tôi đâu biết. Chúng tôi tưởng ở thế gian cũng sung sướng như ở cõi nầy nào ngờ khổ quá.
Chúng tôi ở đây nào có nghĩ tới năm tháng nào có thấy ai già, ai chết bao giờ, hễ bị tội là Thượng Đế đọa xuống trần gian, nhưng tưởng là đi du ngoạn một lúc vậy thôi nào ngờ khổ quá. Các vị Bồ Tát thường đến đây thuyết pháp mà chúng tôi nào có tin lời. Còn Hiền Tăng từ cõi thế lên đây nói rõ cảnh đời khổ sở làm chúng tôi thức tỉnh. Thôi chúng tôi bắt đầu tu theo Phật kẻo bị đọa xuống trần gian khổ lắm chịu sao cho nổi.
Một vị khác tiếp: “Thỉnh thoảng Hiền Tăng lên đây một lần nhắc nhở chúng Tiên tu hành tinh tấn chớ các chư thần thường xuống cõi Diêm phù quan sát về nói lại lắm lúc chúng Tiên cũng chẳng mấy làm tin lắm”.
Tôi bèn cáo biệt các vị Tiên, trở lại đền rồng lãnh chiếu chỉ trở về dương thế.
Đến nơi tôi bái yết xong, Tứ Thiên Vương phán: “Hôm nay Hiền Tăng đã toại nguyện khi trở về khi trở về cõi Diêm phù nhắc nhở chúng sanh tin tấn tu hành, cảnh đẹp ở cõi trời rất rộng đang chờ đón chúng sanh tu thiện. Hiền Tăng nhắc nhở chúng sanh đừng đắm đuối theo xác thân giả tạm, thời gian nó cũng tiêu hoại, phải lo phần hồn là cái chắc thật lâu dài, phải nuôi phần hồn bằng giáo pháp của Phật, phải biết quên mình vì kẻ khác đửng ích kỷ thì cửa trời đang mở rộng đón chờ”.
Phán xong ngài phê chiếu chỉ cho chư thần đưa tôi về cõi thế.
1 2 3 4
——————————————————————————–
Cô Ba Cháo Gà Nguyên Tác: Thích Nữ Huệ Hiền
Mô Phật, đây là lời sơ lược về cảnh trời Tứ Thiên Vương, nếu nói cho hết thì chẳng cùng, hơn nữa tôi chỉ đằng vân ở trên đi lướt qua các cảnh chớ không có thời giờ quan sát tỉ mỉ từng chi tiết một, và ở cõi trời nhiều vật đẹp lạ mà thế gian không có nên tôi cũng không biết gọi là gì.
Cõi trời là cõi thật, muôn đời nghìn kiếp chẳng đổi thay, nơi thánh nhân đầy đủ phước duyên hưởng thọ, trí phàm như tôi không sao tả cho tường tận được. Nếu chư vị Phật tử nào còn nghi ngờ điều chi trong quyển này xin đến Liên Hoa tịnh thất Mỹ Tho chúng tôi vui lòng hầu chuyện cùng quý vị.
Chúng tôi nguyện đem công đức này hồi hướng cho tất cả pháp giới chúng sanh đồng quay về bờ giác.
Viết xong ngày 28-11-1971
Nhằm ngày 11 tháng 10 năm Tân Hợi
Thích nữ Huệ Hiền Kính bút
Khuyến Thiện
Hiện nay chúng ta đang sống giữa cõi đời đua chen, tranh đấu để dành sự sống, chúng ta mãi lo cho ta, lo cho gia đình ta, rồi lại lo cho thân bằng quyến thuộc. Lo hoài, lo mãi nhưng nào ai đã xong việc.
Thật vậy, cha mẹ vợ con rồi cũng chết, nhà cửa, ruộng vườn rồi cũng không còn, chính thân ta còn không thật có, vì nào ai chắc sống đến ngày mai, nào ai làm chủ được thân mình.
Sở dĩ chúng ta lo không xong, không rồi, vì chúng ta chỉ lo cái giả, mà chúng ta chưa lo đến cái thật.
Xác thân này dễ hư hoại, chỉ gặp chút nghịch duyên thì hồn lìa khỏi xác, cha mẹ vợ con như kẻ bạn đường, của tiền nghề nghiệp chỉ là phương tiện sanh nhai nào có chi chắc thật.
Cái chắc thật là linh hồn, còn gọi là thần thức, chỉ có linh hồn mới là cái ta thật, nhưng nào có ai nghĩ đến. Dù chúng ta tạo tội phải ở địa ngục ngàn năm, hay phải làm súc sanh muôn kiếp, lúc làm trời, khi làm người, chỉ vì chúng ta quên nó chớ linh hồn không thây đổi biến dời.
Hiện nay chúng ta đang đứng giữa hai con đường: Con đường nuôi thân ích kỹ, tham lam, ác độc, si mê dẩn đến địa ngục khổ đau! Con đường nuôi tâm vị tha, bố thí, từ bi, sáng suốt dẩn đến Thiên đường an lạc.
Nếu chúng ta theo con đường nuôi thân tội lỗi thì thân chúng ta phạm ba tội: Sát sanh, trộm cắp và dâm dục. Miệng phạm bốn lỗi: Nói láo, nói thêm, bớt, nói đâm thọc và chửi mắng. Ý chúng ta cũng phạm ba lỗi: Tham lam, sân giận và cuồng si.
Bây giờ chúng ta quay về nẻo thiên để nuôi tâm, thì thân miệng và ý chí quay đầu trở lại, thân không sát sanh mà phóng sanh, giúp người mà trong sạch. Miệng nói lời chân thật, đúng đắn, hòa giải và dịu dàng. Ý không tham lam mà phải bố thí, từ bi và sáng suốt.
Ở đây vì đức mỏng tội dầy nên chúng ta chưa dám nghĩ đến cảnh Niết Bàn của chư Phật đầy đủ bốn đức: Chơn thường, chơn lạc, chơn ngã, chơn tịnh, mà chúng ta chỉ bàn đến ác và thiện, khổ và vui để định rõ hai nẻo đường mà chúng ta đã vạch sẵn.
Mười phương chư Phật, hằng sa Bồ Tát, Hiền, Thánh, Tăng ba đời bước đầu cũng khỏi tu mười nghiệp thiện này.
Hỡi ai là bậc trí giả, hãy tự chọn lấy con đường mà đi.
Trần Tình
Trong quyển “Du Ký Tiên, Long, Thiên cảnh” đoạn tả cảnh Địa Tiên và cảnh Long Vương có nói sau này núi châu báu sẽ đem về sứ Mõ Thi ở làng Kim Sơn, nên có nhiều vị hỏi:
- Mõ Thi có phải là tiếng nói của từ Mỹ Tho mà ra không?
Xin đáp:
- Không! Tiếng Mỹ Tho là địa danh do người đời đặt ra, còn tiếng Mõ Thi, do ơn trên đặt để từ lâu. Tiếng Mõ Thi hàm chứa ý nghĩa sâu xa bí ẩn để chi nơi tụ hội của các bậc Thánh hiền. Khởi đầu từ năm Quý Dậu ánh đạo vàng hưng thịnh lan tràng khấp thế giới, có ảnh hưởng cả muôn năm! điều nầy chắc chắn như vậy! Quý vị cố gắng tu hành sẽ sống sót hưởng đời thượng cổ, chỉ vắn tắt ít lời không thể nói nhiều hơn được.
Có người lại nói:
- Vì cô Ba tức là Huệ Hiền ở Mỹ Tho, nên nói núi châu báu sau này về đất Mõ Thi để quan trọng hóa vấn đề có tính cách ích kỷ?
Tôi xin thưa:
- Biết rằng núi châu báu sau này về đất Mõ Thi là nơi chánh (như đoạn nói trên). Nhưng tôi phải chỉ riêng xứ Mõ Thi có châu báu mà tất cả nhà nhà, chốn chốn toàn thế giới, nơi nào có người tu hành chánh pháp đều có châu báu, mặt tình tiêu dùng hưởng lạc muôn năm. Lúc ấy cõi Ta Bà này như cõi Địa Tiên.
Cố gắng lên! Cố gắng lên! Tinh tấn tu hành sẽ đến thành công mỹ mãn.
Chúc quý vị Phật Tử bốn phương tinh tấn tu hành hưởng đời an lạc.
Nam Mô Thường Tinh Tấn Bồ Tá Ma Ha Tat
Thích Nữ Huệ Hiền.
Luật Trời
Nếu… Người làm việc chẳng lành
Mà sau hiển đạt vang danh lẫy lừng
Người dầu không hại, không trừng
Luật trời ắt chẳng bao dung được nào.
Ham Thích Điều Lành
Điều lành điều phải khá nên ham
Việc ác đừng vui, chớ kiếm tâm
Gặp được điều lành như giải khát
Nghe điều hung giữ tránh xa xăm
Làm lành rất được an vui
Đạo lành to lớn như trời bao la.
Lời Lành
Ta nói lời lành đẹp da nhau
Đừng nen nặng nhẹ khiến người đau
Đừng nên đâm thọc cho sanh chuyện
Đừng ỷ thế thần giọng thấp cao
Lời nói thanh bai ý diệu hiền
Đượm màu chơn thật, đượm tâm thiền
Nghe như giọt nước cam lồ rưới…
Mát mẽ tâm lòng tạo thiện duyên.
Sấm Ông Đồ
Người sanh trong cõi Nam Hoàng,
Không phen đài các, cũng hàng Lạc Long
Muốn cho rạng vẽ Tiên Rồng,
Muốn bình thên hạ trước phòng quốc gia.
Muốn cho lợi nước yên nhà,
Trước lo sửa trị gia hòa khiêm cung.
Muốn cho gia đạo hiền hùng,
Tự thân trước phải tư dung nhân hiền.
Nhàn xem sách vở luân thường,
Thầy đồ người ở hậu trường Sài Châu.
Trăng khuya băm sáu tuôi đầu,
Thế thời gặp phải gió âu phong trần.
Mặc Tôn dầu đặng cái lân,
Lòng son Cử trị lãnh phần long đong.
Ra đi vừa lố mặt hồng,
Dường mòn ngoắc ngoẻo như lòng quăn queo.
Trời trưa nắng đổ trên đéo,
Gợi lòng thêm chạnh phận nghèo đắn đo.
Nghĩ mình xưa cũng yên cho,
Chức làm thầy ký dưới trò hoạn quan.
Gia đình cũng khỏi cơ hàn,
Vợ là lương thị tánh nàng xa hoa.
Nàng ưa quý của sang nhà,
Thấy chồng chơn thật sanh ra hẫn hờ.
Trách ông không rõ thời cơ,
Oai như ông Thượng cuốn cờ theo Tây.
Ta nên giả điếc giả ngây,
Thánh hiền chi đó cho tầy khô bao.
Ông Y, ông Doãn thế nào,
Ôm cầy cuốc bẩm con gào vợ than!
Anh tài như cụ họ Phan,
Hết lưu hải ngọai bàng giang ngồi tù.
Anh hùng Yên Bái công phu,
Sa cơ còn phải mạng tru tan tành.
Tài tình như cụ Phan Thanh,
Ba Đình nhất thủ cũng đành co tay.
Trở cờ một sánh ấy hay,
Xu thời theo thế là tài lập an.
Kìa xem ông lớn nhà quan,
Biết tôn người Pháp mà sang mà giàu.
Quan thời kín cổng lầu cao,
Tới chi dân giả mà đâu mà lòng.
Chỉ theo thời thế lập công,
Cúi đầu mọp xá cho xong lẽ nào.
Ông mà không nghĩ trước sau,
Con thơ bốn đứa ai hầu đảm đang.
Buồn đời lại gặp vợ gàn,
Đến quan gai mắt về nhà xốn xang.
Bỗng nghe thiên hạ nhôn nhàng,
Dân nghèo trốn thuế, lính làng nên ghê.
Chú cai, thầy Đội nhùn trề,
Đánh thôi không kể chửi điên nhiếc mờ.
Thảm thương cho đám dân khờ,
U đầu sưng mặt biết nhờ cậy ai.
Cúi xin ông Đội thầy Cai,
Hưởng vài kỳ hạn chúng tôi chạy tiền.
Vợ con đau ốm liên miên,
Mùa màng thất bát làm phiền các ông.
Cha già, mẹ yếu, của không,
Sở làm chẳng có biết phòng cậy ai.
Áo cơm thiếu hụt hằng ngày,
Cúi xin quan lớn nới tay khoan hồng.
“Đồ khốn! Lũ bây cuồng ngông,
Muốn làm cách mạng không tuân lệnh làng.
Ký đồ đem sổ trước quan,
Hãy làm biên bản tống giam lũ này.”
Đồ rằng: “Cớ sự như vầy,
Dân nghèo đói khổ tội này bởi quan.
Nhớ xưa dân chúng cơ hàn,
Ông vũ coi việc khai đàng sông Thương.
Cho nước khỏi ngập ruộng vườn,
Vì dân vì nước lòng thường siêng năng.
Thế mà ông còn bảo rằng,
Nếu dân bị lụt tội này về ông.
Ông tắc coi việc điền công,
Đốt trầm đuổi thú cho dân cày bừa.
Ông rằng nếu dân thất mùa,
Vợ con đói khổ tội này về ông.
Người hiền mãi lo việc công,
Kẻ khôn! Chỉ muốn ở không làm nền.
Đinh, Lê, Lý chúa Nam Hoàng,
Khuyếch trương kinh tế dân làng ấm no.
Thuế sưu đơn giản nhẹ lo,
Nay vì quan lớn ăn no ngồi rồi.
Cướp bóc, hà khắc đủ điều,
Phần mùa thất bát thế nào cho dân.
Thương người như thể thương thân,
Quan trên xin thử cân phân thế nào.
Dẫu cho tước trọng quyền cao,
Cũng thương lấy chút đồng bào dân ta.
Ham chi chút bã lang sa,
Mà gây lắm nỗi phong ba bất bình”.
Thấu tai quan nổi lôi đình,
“Khá khen thầy ký dám kình với ta,
Linh quyền lột chức đuổi ra,
Tẩy chai cho nó khôn qua đóng tiền”.
Thôi rồi thế sự ngửa nghiêng,
Từ đây con vợ than phiền đến đâu.
Éo le đơn khảy mấy câu,
Nước xao mấy lượn nghĩ âu nực cười.
Cho hay vậy cũng là người,
Con Hồng cháu Lạc hồ ngươi chẳng là.
Trời Nam một dãy sơn hà,
Linh đinh bể cả biết mà về đâu.
Ba Đồ một vẽ âu sầu,
Khi buồn khi tức câu mâu đủ điều:
Kia nhà phú quý quan liêu,
Thiếm Cai bà Đội đủ điều phong dinh.
Quan oai kẻ bẩm người trình,
Phủ đường có lính có binh gác hầu.
Bà lớn sang biết là bao,
Ra đường thiên hạ cúi đầu sợ oai.
Đi thời xe cộ hẳn hoi,
Trùm làng vòn nể mựu đòi thứ dân.
Ông Đồ là người bất nhân,
Học đòi liêm sĩ giết lần vợ con.
Nhẫn tâm một chút chịu lòn,
Nã dân lập nghiệp vợ con nó nhờ.
Ông không xét rõ thời cơ:
Thử xem thiên hạ bây giờ có ai,
Nhìn kỹ quan liêu ngày nay,
Phần đông môn đệ học tài với ông.
Cớ sao nó lại nên công,
Còn ông thì lại tay không chân rồi.
Chúng con khi dễ đến tôi,
Xem ông như rác đưng ngồi với ai.
Pháp định gặc đức tranh tài,
Quan trên bắt lính để bài tồng quân.
Ông ra gánh vác chút phần,
Làm sổ biên bản lập thân với đời.
Ấm no thê tử vui tươi,
Tệ chi lắm lệ trời ơi là trời.
Hết khuyên rồi lại lắm lời,
Mắng chồng rồi lại tơi bời đánh con.
Tội chi mà phải chịu đòn,
Áo cơm không có lại còn vọt roi.
Trẻ thơ lắm nỗi đắng cay,
Nhìn cha, cha thảm, nhìn mẹ, mẹ sầu.
Sợ mẹ hồn vía lên đầu,
Bồng em chạy trốn dãi dầu thảm thê.
Ác vàng nhựt tợ ngoại kề,
Cánh buồm bao quản bốn bề gió xiêu.
Ông Đồ một mực chuộng chiều,
Tìm lời to nhỏ cho yên qua ngày.
Rằng: “Xem thiên hạ thời nay,
Biết bác cơ cần đọa đầy thảm thương!
Thuê sưu ép ngặt đủ đường,
Lâm cơn nghèo thiếu lại vương lao tù.
Ta có nghèo đói mặc dù,
Cũng là chia sẽ nổi buồn cùng ai”.
Thất nghiệp ngày tháng loay hoay,
Lần hồi sự nghiệp gia tài sạch không.
Con thơ đói rách long đong,
Bạn bè xa lánh biết trong cậy ai.
Hết phương tính một liệu hai,
Hết lời to nhỏ hết nài hết lơn.
Bà Đồ tột độ căm hờn,
Dân mâm xán chén dặm chơn kêu trời.
“Mặt này cũng tại vì ai,
Làm ra mặt phải có tài được không?”.
Thầm cho lũ trẻ bập bồng,
Bữa râu bữa cháo bữa lòng vắng hoe.
Xin cơm, mượn gạo lăm le,
Bữa có bữa chẳng rách te áo quần.
Chôi con lọng gió tưng bừng,
Ngẩn ngơ trúc tử khôn ngừng dòng châu.
Hoa non trời nở mưa ngâu,
E cho tan tác mái đầu non non.
Gió đông thổi buốt lòng son,
Làm cho con én đầu non dật dờ.
Bèn tan rã cánh lờ đờ,
Ngẩn ngơ hồn bướm biết nhờ vào đâu.
Đau lòng lụy nhỏ thấm bâu,
Ông đồ nhỏ nhẹ rầu thốt ra.
Bà cùng con ở lại nhà,
Hẩm hiu rau cháo cho qua tháng ngày.
Tôi ra miền Trung phần ngoài,
Tìm sở làm mướn một vài tháng qua.
May nhờ phước dư ông bà,
Bay tiền chi độ chẳng là ấm no.
Dứt lời bà hứ tiếng to:
“Cái bộ ông đó sớm lo ở tù”
Hết lời biện bạch trí ngu,
Nói nhiều thêm oán chác thù ích chi.
Một hai gì cũng phải đi,
Đi cho khuất mắt huốn chi ở nhà.
Chơn ông vừa mới bước ra,
Lũ trẽ triều mến xót xa khôn cùng.
“Cha ơi! Cho con đi chung,
Ra về sớm tối con cùng bên cha”.
Rằng: “Con tạm ở lại nhà,
Cha đi giây lát mua quà cho con.
Gượng vui kẻo mà bị đòn,
Khi về cha ẫm cha bồng cha cưng”.
Ngỡ cha nó đi cầm chừng,
Không dè biền biệt Thê lương tháng ngày.
Chợt nhìn trời tối mới hay,
Ông Đồ mãn nhớ mãn gay mãn sầu.
Ở đây là ở đâu đây?
Gió hòa thông khóc, nước reo nhạc sầu.
Vang vang vượn hú non đầu,
Như say mới tỉnh giây lâu bên đàng.
Xem chừng làng xóm thôn trang,
Lần đến đầu ngõ ngỡ ngàng bước vô.
Thưa cùng anh chị cậu cô,
Tôi người thất nghiệp đạo đồ lang thang.
Hỏi ra mới biết xóm làng,
Gần đến Phan Thiết, Nha Trang ranh ngoài.
Ngàn năm một thuở là may,
Có ông Triệu phú mới hay thầy Đồ.
Mời vế thăm hỏi tề mô,
Rược cơm trà nước lại phô ý mình.
“Nhà tôi có lũ Môn sinh,
Vốn dòng con cháu Nho Kinh gia đường.
Ngặt nổi lối đi vào trường,
Xa xôi e ngại thêm đường rừng hoang.
Gặp thầy tôi cũng đặng an,
Xin thầy ở lại mở trang phá ngư.
Ơn thầy tôi cũng đền bù,
Năm đồng mỗi tháng công phu của thầy”.
Như vầy thì cũng là hay,
Ông đồ vui dạ tỏ ngay cùng là.
Vừa dạy vừa cũng dò la,
Tìm hiểu Tiệu phú giàu mà làm sao.
Rõ rồi lòng cũng nao nao:
Ai ai nước đục cũng ào thả câu.
Việc người đành mặt người âu,
Xây dựng lũ trẻ chút câu nhân tình.
Những khi cơm nước linh đình,
Nhớ đến gia đạo nổi mình mà đau.
Giờ này con ra làm sao?
Bà Đồ xoay trở lẽ nào có hay!
Ở đây đời việc ngoài tai,
Nhớ thì thêm ghét, sầu thì hay thương.
“Thương là thương đấng cang cường,
Anh hùng trụy lạc ẩn tường nơi nao.
Thương cho huynh đệ đồng bào,
Sưu cao thế nặng lâm vào nạn tai”.
Thương rồi ghét đắng ghét cay,
“Ghét là ghét kẻ bất tài mị dân.
Ghét thay cái lũ vô ân,
Giả danh bảo hộ lột trần dân ta”.
Nghĩ gần rồi lại nghĩ xa,
Ghét thương, thương ghét không ra kẽ nào.
Ngủ thời thiêm thiếp chiêm bao,
Ăn thời như thế cho vào đặng no.
Dạy thời! Liêm là thẳng, Chi là cho,
Nhân là hiền, Cang là cưng, Gia là nhà, Bất là không.
Cơm thời miễn đặng no lòng,
Tiên thời mỗi tháng năm đồng còn nguyên.
Gượng cười gượng nói cho yên,
Đúng kỳ ba tháng ta đành hồi quê.
Còn năm ngày nữa gần kề,
Đến rằm tháng chạp công thuê mãn kỳ.
Bãi trường từ giã chẳng trì,
Cơm khô gói sẵn phòng khi thượng hành.
Bến tàu dừng lại nghĩ quanh,
“Nếu đi tàu hỏa tiền dành mẻ đi.
Âu ta cuốc bộ một khi,
Tiền lương ba tháng chớ tiêu đồng nào.
Về xem con, vợ làm sao,
Bặt tin ba tháng âm hoa chưa tường.
Để cho con, vợ nó mừng,
Mười lăm đồng bạc tết từng cũng vui.
Thôi thì ta cũng làm nguôi,
Ba phải thời thế cho xuôi lòng bà”.
Tinh gần rồi lại nghĩ xa,
Đói ăn cơm rán khát hòa nước sông.
Trời xuân con én đưa song,
Ai ngồi bên cửa trông chồng ru con.
Tiếng luồng theo gió nỉ non,
Hòa theo đơn suối chảy lòn cầu lam.
“Lỡ tay trót đã nhúng chàm,
Đánh liều nhúng hết hai bàn cho xong.
Gió tây chuyền ngọn đòng đòng,
Sông nam gợn sóng biết lòng vào đâu.
Ù ơ ví dẫu ví dầu,
Bí bầu chê ghét biết đâu về chiều.
Mẹ gà con vịt chít chiu,
Mấy đời mẹ ghẻ thương yêu con chồng”.
Bước qua đàng vắng xa xong,
Còn nghe văng vẳng tiếng đồng như tơ.
Trời chiều quạnh quẽ như tờ,
Ngư về viễn Phố Mục về cô thôn.
Thu không tiếng mõ đầu đền,
Đèn nhà lắp lóe hoàng hôn phủ đằng.
Bóng cầu đen vắt sông ngang,
Sao in đấy nước chớp làn sống châu.
Rảo chơn vừa quá nhịp cầu,
Chợt nhìn thấy bóng người đâu lẹ làng.
Đàn bà bụng lại có mang,
Đâm sầm xuống mé muốn toan liều mình.
Kính hồn Đồ chạy tới nhìn.
Nắm áo níu lại sự tình hỏi han.
“Rằng tôi nhiều nỗi ức oan,
Chết đi cho mất sống càng khổ thân.
Chồng tôi là kẻ thường nhân,
Thất mùa chư đóng thuế thân bị đầy.
Phần tôi thai nghén gần ngày,
Một mình đói khổ ai hoài hẩm hiu.
Nuôi một con heo sớm chiều,
Phòng bán nuôi sống, đở nghèo khi sanh.
Nào ngờ gặp đứa lưu manh,
Mua heo với giá bạc đành mười lăm.
Bắt heo tiền trả tôi cầm,
Sáng ngày ra chợ toan tầm mua than.
Mới hay bạc giả kinh hoàng,
Lính làng đòi phạt đòi răn sỗ sàng.
Đầu đuôi tôi phải kêu oan,
“Xin làng cho kẻ truy tầm bắt giam”.
Làng rằng: “Làng mắc việc quan,
Công đâu mà tính chuyện gàn bông lông”.
Về nhà ngồi đứng không xong,
Đếng này sinh sản hết trông phương rồi.
Bà con không có ai nuôi,
Cô thân chỉ có mình tôi khổ đời.
Mồ cha nó bắt chồng tôi,
Bằng không đâu có lôi thôi thế này.
Đồ hay cớ sự như vầy,
Lòng đau như cắt biết tài nào cao.
Rằng: “Đâu bạc giả làm sao?
Đưa tôi xem thử lẽ nào cho minh”.
Xoay qua phía khác cho minh,
Trao đưa bạc thiệt tỏ tình nguồn cơn.
Thôi thôi tôi cũng làm ơn,
Giúp giùm cho nó khỏi cơn nguy nàn.
Vốn tôi là thầy Lỗ Ban,
Thư phù bạc giả hóa thành bạc chơn.
Nàng rằng: “Còn có chi hơn,
Tôi xin ghi dạ đội ơn muôn đời”.
Cầm tiền từ giã đôi lời,
Ông Đồ đứng ngó thương người dân quê.
“Thật thà chơn chất, vụng về,
Dốt nát thiên hạ, dễ bề gian tham.
Cơ mưu họ khéo dụng tâm,
Cho dân ngu dốt dễ lầm dễ sai.
Bảo tin kẻo bị tội đày,
Bảo sợ kẻo bị hình hài phat răn.
Chẳng hề lo việc mở mang,
Để cho dân chúng bị tòn yêu ma.
Ngồi không vẽ lắm điêu ngoa,
Nghĩ sưu toan kế cho ra tùi tiền.
Dân nghèo chạy ngửa chạy nghiêng,
Ráng cho ra tốp dưới quyền quát la.
Vừa suy vừa nghĩ gần xa,
Chợt liền nhớ lại thân ta thêm phiền:
“Mười lăm bạc giả cầm nguyên,
Về đây biết nói biết yêu lẽ nào.
Làm sao thì mặc làm sao,
Người chết ta nỡ lòng nào làm ngơ”.
Trời đêm lặng lẽ như tơ,
Vạc kêu đồng nội trống hơ đầu thôn.
Nhá nhem nhà cửa tối om,
Dò theo lối cũ quanh chòm trúc thưa.
Xơ rơ một mái nhà xưa,
Vách hay rước gió chái thừa trút mưa.
Xác xao cành liễu đồng đưa,
Âm thầm đứng tựa vách thưa nhìn vào.
Ngạc nhiên ông đồ thở phào!
Bà đồ nay khác biết bao cho cùng.
Áo quần rách rưới lạnh lùng,
Thế mà bình tỉnh vô cùng hiền lương.
Con ba bốn đứa trần truồng,
Ngồi kề bên mẹ ra tuồng thương yêu.
Xưa thầy phát ghét bao nhiêu,
Nay xem gương mặt yêu kiều dễ thương.
Ai dạy bà ở hiền lương,
Ai bảo bà sửa khác thường hơn xưa.
Trước kia gương mặt chẳng vừa,
Thấy mà phát tởn có ưa được nào.
Nói thời như tát nước vào,
Con thời bị đánh la gòa thất thanh.
Mà nay xem vẽ hiền lành,
Mẹ con xúm xít xem đành biết bao.
Làm sao chưa hẳn làm sao,
Thoạt nghe trẻ nhỏ bều bào nói ra:
“Mẹ ơi! Con bụng xót xa,
Vì đói lạnh quá! Nhớ cha vô cùng”.
Mặt bà điềm đạm ung dung,
“Con ôi! Vì bởi bần cùng phải cam.
Bạc tiền ai lại chẳng ham,
Nhưng của phi nghĩa mà tham làm gì.
Mẹ mà xưa biết lễ nghi,
Thì cha con chẳng ra đi xa đàng.
Phụ tử tình nghĩa đã mang,
Cha con bao nỡ dứt đàng hay sao.
Chờ năm ba bữa chẳng lâu,
Sắp đến ngày tết bắt đầu sang năm.
Cha con chắc sẽ về thăm,
Chẳng nhiều cũng ít chị em con mừng”.
Ông Đồ đứng dửng dừng dưng,
Muốn bỏ đi trốn bước dừng dở dang.
Bỗng thấy bà đứng gần bàn,
Ngước lên liền thấy ngang hàng mõ, chuông.
Đốt hương bà nguyện buồn buồn,
Mấy đứa nhỏ cũng sắp hàng quỳ theo.
Cắm hương chuông, mõ tụng reo,
“Ờ! Ra bà đã quên nghèo vì tu.
Thật là đạo cả công phu,
Như vậy thật đáng đền bù công ơn.
Nghĩ mình xưa lỗi đường chơn,
Chẳng hiểu Phật pháp thật hơn đâu màng.
Cho rằng: Mê tín dị đoan,
Cho rằng: Cái đạo làm càn mị dân.
Cho rằng: Những kẻ chán trần,
Vào chùa chuông mõ lãnh phần chuối xôi.
Lại cho cái đạo mị đời,
Tín càn không có ít thời chi chi.
Coi thường các bực tu trì,
Rằng: Từ bi ấy ngoa nghi bỏ quàng.
Nào hay đạo cả thinh thang,
Bao nhiêu cũng đủ đáp toàn lời ta.
Thật là phước đức không xa,
Mới hay đạo Phật vốn là tại tâm.
Bao nhiêu cũng rõ thậm thâm,
Thật nước cam lộ rải nhằm đến ta.
Từ bi phước đức hà sa,
Còn hơn phú quý mà đa tham tàn.
Cúi lạy đức Phật trên bàn,
Từ bi tế độ muôn vàn khổ đau.
Thật tôi có phước làm sao,
Đạo Phật xây dựng thế nào mà hay.
Nhớ ơn đức Phật cao dày,
Độ người ám muội ngày này quang minh”.
Nghe bà vừa dứt lời kinh,
Cất tiếng phục nguyện lại in tấm lòng.
“Nguyện mười phương Phật chứng minh,
Cho trong lệ tội tình tiêu tan.
Hết cơn vẫn bị tai nạn,
Thoát cơn ác quỷ lạm đàng nhiễu nhương.
Cầu hồn xiêu lạc bốn phương,
Diệt hết phiền não Tây phương sớm gần.
Nguyện chư Bồ tát ai lân,
Độ ông Đồ mạnh tinh thần bằng an”.
Thành tâm vừa nguyện vừa van,
Ông đồ ngoài cửa lại càng phục lăn.
Phục bà thật có thiện căng,
Cảm Phật lại kính chư Tăng hoàng triều.
Tự quy bà đứng lạy liền,
Mấy đứa nhỏ cũng ngoan hiền lạy theo.
Ngoài thềm năm vóc cũng gieo,
Như có thần lực nào đeo bên mình.
Cũng cúi cũng xá cũng quỳ,
Ông Đồ như tỉnh qua thì cơn say.
Đằng hằng lên tiếng bên ngoài,
Mẹ con mở cửa loay hoay đón mừng.
Giờ đây náo nhiệt tưng bừng,
Lũ trẻ lăn líu tươi cười lắm thay.
Gượng cười dòng lệ chảy ngay,
“Mừng bà được khỏe con rày bình an”.
Vuốt ve trẻ nhỏ dịu dàng,
Thầy bà vui vẽ lòng càng vững yên.
Bà không hỏi tới bạc tiền,
Mà hỏi: “Ông đặng bình yên chẳng là?
Bây giờ tôi mới sáng ra,
Bây lâu có một như lòa khác chi.
Ông thật coa quý ai bì,
Thanh tao liêm sĩ đáng vì nêu cao.
Thế mà tôi đã hỗn hào,
Xin ông tha thứ cho bao lỗi lầm.
Si mê trót đã tối tâm,
Đuốc từ vừa nhóm phóng tầm quang huy.
“Lạ chưa bà thật nên hay,
Lẽ ra tội ấy tôi gây thêm buồn.
Bỏ con bỏ vợ luôn tuồng,
Thế mà bà lại chẳng buồn chi tôi.
Việc rồi đã qua thì thôi,
Bà tu chừ đặng bao hỡi mà cao.
Tôi xem bà thắm tương chao,
Ai dạy cách thức làm sao hở bà?”
Đứa nào bập bẹ khoe khoang,
“Mẹ con niệm Phật không la khỏi rấy.
Tay mẹ mềm mại thế này,
Khác hơn khi trước như cây như chà”.
Rầy em: “Đừng nói ba hoa,
Để mẹ kể lại cho cha nghe cùng”.
Bà rằng: “Đạo cả bao dung,
Duyên lành gặp đặng phước tùng hậu lai.
Vì đời lầm lạc mê say,
Đọa cao siêu lại xem bày dị đoan.
Pha trò phù thủy phá hoàng,
Giấy tiền vàng mã lập đàn làm chay.
Ở chùa phạm giới phá trai,
Theo trò danh lợi làm sai chơn truyền.
Làm cho hoen ố cửa thiền,
Bởi nhà thực trị chính nghiêng mưu thần.
Mặc cho dân chúng sai lầm,
Cố cho dân tộc nhân tâm suy đồi.
Đạo đời vướng phải lôi thôi,
Cho dễ tự ý ghế ngồi vững yên.
May mà còn chút thiện duyên,
Con Hồng cháu Lạc còn truyền chơn sư.
Đứng lên cố xúyt vô từ,
Cùng hàng trí thức quyết trừ tà mê.
Từ Nam chí Bắc nhất tề,
Đại sư thiện đức cụ Lê Khánh Hòa.
Nam kỳ Phật học mở ra,
Lương Xuyên Phật học, phước Hòa Trà Vinh.
Các Tổ Huệ Quang, Khánh Anh,
Rồi đến họat động tại thành Sài Châu.
Tăng già giáo hội cầm đầu,
Như lai sứ giả khắp châu hoàng truyền.
Xa nhà may có thiện duyên,
Khai đàn diễn giảng trước niên đình làng.
Tôi được nghe giảng mãn đàn,
Mười bài thuyết pháp chơn toàn phổ thông.
Mới rõ tà cánh đục trong,
Đạo, đời chơn chán ngỏ hòng mở mang.
Phật dạy nhơn quả rõ ràng,
Phá mê dân chúng tự cường cách tân.
Từ bi tỏa khắp nhân dân,
Tôn trọng bình đẳng không phân sang hèn.
Tại gia năm giới tập rèn,
Tự mình tu luyện như đèn nhà đêm.
Năm giới trong đó phân tìm,
Cũng làm căn bản đời thêm thái bình.
Thử xem gia đạo của mình,
Gia không có đạo thế tình ra sao.
Năm điều ai cũng ước ao,
Sống, giàu, đẹp đẽ, trí cao ngôn từ.
Áp dụng năm giới phước dư,
Muốn sống đừng sát nhơn từ chi hơn.
Muốn giàu bố thì làm nhơn,
Muốn đẹp tà hạnh sạch trơn trong lòng.
Muốn thông vọng ngữ phải phòng,
Muốn có trí tuệ mưu hòng say sưa.
Chuyển lòng niệm Phật sớm trưa,
Chay lạt tu tập dứt chưa sân sì.
Tự thân lấy đó làm nghi,
Trị gia lấy đó làm quy tông đàng.
Trị quốc nhờ đó bằng an,
Năm điều yếu tố nhân gian hòa bình.
Xét chút thế sự nhân tình,
Xưa nay lọan, trị lưu truyền sử sanh.
Loạn hết tới trị an ninh,
Trị hết đến loạn thế tìng đâu sai.
Trị là nhân kẻ thảo ngay,
Loạn là phạt kẻ dày tiền thân.
Ai tu cứ giữ đạo chân,
Nghe chi nói thánh nói thần rộn tai.
Thấy dân khổ sở hoang mang,
Xưng thần xưng thánh rằng toan cứu đời.
Rằng sắp tận thế tới nơi,
Thay trời đổi đất rót rồi đều sai.
Phật dạy thiện, ác chiêu lai,
Hết loạn đến trị xưa nay lẽ thường.
Trịnh, Nguyễn xưa cắt biên cương,
Ba mươi năm loạn đủ đường đắng cay.
Nghĩ xưa mà ghét ngày nay,
Đừng nghe mà mị rầy tai hư mình.
Tu thì cứ học luật kinh,
Chớ tu đâu cứ luận tình thế gian.
Bàn tán nói dọc nói ngang,
Cũng đừng luyện xác tập đoan cầu kỳ.
Ăn ngay ở thật theo thì,
Rộng lòng tế độ hay vì phân minh.
Sửa mình sớm kệ chiều kinh,
Ăn chay niệm phật giàu tình từ bi.
Dẹp hết phiền não sầu si,
Diệt sạch nghiệp chướng ràn vì phát minh.
Giáo lý cao cả thinh thinh,
Thắm nghe tôi lại giật mình thở ra.
Bấy lâu bèn hạ xấu xa,
Tham, sàn, si, chướng mới ra nỗi này.
Nhờ thầy chỉ dạy như vầy,
Tam quy làm hướng đoạn dây tam đồ.
Năm giới phước đức tài bồi,
Như vầy ai dâm nhọ bôi đạo nhà.
Tinh hoa vốn đạo ông bà,
Học Phật thờ Phật con nhà Lạc Long.
Ông nghe mát dạ vừa lòng,
Êm như gió thoảng đẹp bằng tráng thu.
“Như vầy ai lại không tu,
Như vầy thật đáng công phu sĩ hiền.
Như vầy ai lại không kiêng,
Văn hào trí thức còn khuyên nễ vì.
Đạo mâu huyền diệu tri tri.
Phước này con có phước gì cho hơn.
Dù cho giàu có tước quờn,
Mà thiếu đạo đức chuốc hờn ích chi.
“Sao ông ngồi mãi nghĩ suy,
Không phân chẳng luận tiếng chi lại thù.
Ông đi cớ sự hà như?
Khi về lộ vẽ ưu tư bàng hoàng”.
Giờ đây ông đồ ngở ngàng.
Rằng: “Tôi làm nướn vì nàng vì con.
Tiền lương ba tháng vẹn toàn,
Đem về định để vợ con nó mừng.
Hôm chiều gặp việc dửng dưng,
Thấy người lâm nạn tạm dừng hỏi ra”.
Đầu đuôi kể lại gần xa,
Vừa nói vừa lên coi bà xem sao.
Bà không buồn giận chút nào,
Lại còn cười nói am nào đầu đuôi.
“Bạc tiền tiêu đặng bao lâu?
Vợ con ăn hết còn đâu phước lành.
Ông làm điều ấy phước dành,
Con ông nhờ đó nên danh với đời.
Vậy là điều đáng vui mừng,
Cớ sao ông lại lộ người lo âu.
Sống theo đạo đức nhiệm màu,
Sốn mạnh sống rộng cao sâu vô cùng.
Sống mạnh là đức đại hùng,
Diệt hết phiền náo hung sùnh nơi tâm.
Mạnh dạn nhìn nhận lỗi lầm,
Khi người chỉ lỗi không câm chẳng hờn.
Văn vương là phụ chi dân,
Nghe lờinói phải ân cần kính vâng.
Người dầu sức mạnh ngàn cân,
Trăm trận trăm thắng tài bằng Hạng Vương.
Dường ấy chưa phải đại hùng,
Tự thăng dục vọng tâm trung ai bằng.
Diệt sạch phiền não ác căn,
Mới là sống mạnh tài bằng pháp vương.
Sống rộng là mở lòng thương,
Thương người thương vật tai ương đọa đầy.
San phẳng hầm hố chông gai,
Xá hết oán giận còn ai tranh giành.
Lo gì không dứt chiến tranh,
Sống mà dường ấy sử xanh còn hoài.
Sống chừng vài tháng cũng hay,
Sống lâu vô nghĩa như cây trên rừng.
Ngàn năm no sống đã từng,
Hai lẽ sống ấy ông ưng lẽ nào?
Ông sống ý nghĩa đã cao,
Cớ nào ông lại nghĩ sao mà rầu.
Ông Đồ nhẹ nhõm tới đâu,
Trong lòng quả cảm đạo màu thênh thang.
Nếu bà không tu để an,
Ít ra bà cũng tụng tan cả ngày.
Thế mà bà lại cười dài,
Làm cho đáng phục nhắc hoài không thôi.
Tu sao nhẩn nại vô hồi,
Tu sao bà lại thật thôi hiền hòa.
Lại thêm rộng lượng hài hòa,
Từ bi hỷ xả bao la tội đời.
Dầu cho lở đất long trời,
Mà vẫn bình tĩnh không lời núng nao.
Đói rách khổ đến làm sao,
Cũng vẫn yên tĩnh anh hào ai qua.
Trăm năm trong cõi người ta,
Quý chăng một chữ ấy là chữ tu.
Phiền não u uất từ lâu,
Bỗng tan theo gió mạch sầu sạch trơn.
Như vầy con có chi hơn,
Khen bà đã đáng hiền nhơn trên đời.
Con vui bà lại tươi cười,
Thế là gia đạo đẹp mười từ đây.
Một nhà đặng như thế này,
Mười nhà rồi đến đông, tay thẩy đều.
Thấm nhuần đạo đức cao siêu,
Quốc gia thạnh trị quan liêu nhân từ.
Lo gì đời chẳng an cư,
Làm gì xã hội chẳng như thái bình.
Gác tay nghĩ lại gia đình,
Xuân nhựt sắp đến liệu tình làm sao.
Nát óc xoay xở lẽ nào,
Của đâu sắm mặc làm sao no lòng.
Trẻ thơ tuổi dại đèo bồng,
Áo cơm không có dưa hồng cũng không.
Thế nào giải quyết cho xong,
Chợt nghe gà gấy hừng đông rộn ràng.
Giấy hồng vuông gói rôn gàng,
Kêu bà thức dậy tính toan lẽ này.
“Gói nầy vật quý trong đây,
Bà mau cầm lấy ra ngay chợ làng.
Chiều qua tôi vừa đi ngang,
Thấy tiệm đề bảng khai trương cầm đồ.
Sáng nay bà sớm bước vô,
Đưa gói xin gởi món đồ cầm cho.
Bà đừng cấn biết căn do,
Cứ y như vậy chớ lo ngại gì.
Tôi bảo bà chớ hoài nghi,
Cứ như thế ấy bà đi là vừa.
Chần chờ kẻo trời quá trưa,
Lại sợ hư việc bà thừa lời ông.
Cầm đi lòng lại hỏi lòng,
Lạ thay không hiểu ý ông hế nào.
Mình nghèo đèn chí tử nguy,
Nào có của báo vật gì lạ thay.
Cầm thì nhẹ hỏng trên tay,
Sao ông cấm mở bảo ngay cứ cầm.
Vừa đi vừa nghĩ lầm thầm,
Vừa đến trước cửa xin cầm đưa vô.
Ông chủ tiếp lầy gói đồ,
Mở xem trịnh trọng cất vô văn phòng.
Hỏi bà muốn cầm bao đồng,
Bà Đố lúng túng biết hồng bao nhiêu.
Nhớ ông nói chuyện hồi chiều,
Ý chừng theo đó nói liều mười lăm.
Bà theo giá đó xin cầm,
Vui trao ba tấm bạc năm cho bà.
Đặng bạc bà liền bước ra,
Nghĩ đi nghĩ lại lạ mà làm sao.
Định về hỏi ổng thế nào,
Buộc ổng phải nói âm hao cho tường.
Cằn nhằn đón hỏi đủ đường,
Túng ông phải nói chuyện thường có chi.
Người ta quý chữ xưa nay,
Khai trương có chữ khéo hay là mừng.
Cho rằng! Đó là điềm hưng,
Tôi đà toan tính liệu chừng xa xăm.
Viết khéo hai chư õ”Chánh Tâm”
Sai bà cầm lấy đầu năm sắm quà.
Nghe xong bà lại xuýt xao,
Ấy chết như vậy mất mà Chánh Tâm.
Rồi chỉ còn lại tà tâm,
Người tu thà chết ai cầm thế ni.
Dầu cho nghèo đói chẳng chi,
Mang lấy tiếng thẹn còn gì ông ơi.
Đời ta nghiệp chướng nhiều rồi,
Vì mê vọng ngã chuyền dời lăng xăng.
Ai cùng sợ khổ tham ăn,
Vì chưa diệt vọng chấp càn mà ra.
Nếu mà diệt được cái Ta,
Thì không như có khổ mà như không.
Phải ngộ bản tánh chơn không,
Nào có chi khổ chẳng hòng chi vui.
Khổ vui thoát ra thật rồi,
Dẫu cho khốnđốn vẫn cười vẫn cam.
Gặp lúc sang trọng chẳng ham,
Khổ, vui giả tạm có can chi mình.
Như như không động đinh ninh,
Thì làm chi có nhơn tình lôi thôi.
Một hai gì cũng phải thôi,
Tôi xin đi chuộc “Tấm rồi mới an”.
Nói xong bà đi vội vàng,
Ông Đồ chết sửng không rằng lời chi.
Đã tâm khốn khổ thế thì,
Cho đến tiếng nói có chi không bằng.
Người ta chịu đấm mà ăn,
Dầu bị sỉ vả mắng răng mặc tình.
Miễn cho no ấm gia đình,
Luồn cuối bợ đỡ mặc tình thị phi.
Ham mê nào biết lỗi nghì,
Mặt chai mày đá ngu ai đến cùng.
Bà nhà theo tánh đại hùng,
Tiếng gọi cầm chữ tâm trung vẫn còn.
Thế mà bà thật sắc son,
Mang tiếng một chút ý còn đón ngăn.
Làm ta lòng cũng băng khoăn,
Người mà đường ấy ai bằng được chăng.
Nam nhi đáng thẹn vô ngần,
Ta thật cương trực chưa bằng nữ nhơn.
Đến tiệm bà tỏ thiệt hơn,
“Làm người xin giữ tâm chơn mà dùng”.
Chủ tiệm vui vẻ lạ lùng,
Nghe nói như vậy ông vùng cười khan.
“Hay bà chê rẻ phàn nàn,
Muốn thêm thì nói cho bằng thì thôi.
Không không xin ông cho hồi,
Để cho tôi giữ trọn rồi “Chơn tâm”.
Trácg lòng ai nỡ đem cầm,
Rằng: “Không tôi cũng hồi tâm cho bà.
Nhà bà cách đây gần xa”,
Hỏi thăm sau trước dò la rõ ràng.
Về nhà bà Đồ mới an,
Ông Đồ hết tính lại toan gãi đầu.
Nãy giờ cũng chẳng bao lâu,
Chợt thấy ông chủ ngỏ hầu bước vô.
Gia đình ông nghèo thế mô,
Dò xem tôi biết bà Đồ người ngay.
Ông trời tuồng chữ đại tài,
Chồng tài, vợ đức trên đời mấy ai.
Người đời mù mắt ù tai,
Vì danh vì lợi biết ai ngu hiền.
Kẻ giàu họ tưởng như tiên,
Thấy nghèo họ thị như điên như khờ.
Tôi người có mắt xem đời,
Biết người có đức gặp thời nạn tai.
Như vầy còn có chi hay,
Tiệm thiếu tài phú ông rày giúp tôi.
Tiền lương mỗi tháng đáp bồi,
Mười lăm đồng lẽ thì tôi sẳn mà.
Đồ rằng: “Đức ở nơi bà,
Tôi người thường thế có ra nổi gì.
Chủ rằng: Xưa nay hành vì,
Vợ mà chơn chánh chồng vì hiền lương.
Vợ gàn xuôi chồng tầm thường,
Vợ ác chồng cũng theo đường tà gian.
Vợ người Vương Bỉnh tham sang,
Xúi chồng lạm hối phải mang lao đề.
Vợ anh xa phu nước Tề,
Khích chồng liêm sĩ chức đề Đại phu.
Đơn bà nhân đức khéo tu.
Gia đình ảnh hưởng phước bù xuê xang.
Vợ ngay xúi chồng đàng hoàng,
Vợ chồng có đức thì an cửa nhà.
Tết nhứt nay đã đến ngày,
Giúp trước hai tháng ông xài đầu năm.
Ông Đồ cũng vừa an tâm,
Bà Đồ nhận bạc đầu năm ăn mừng.
Trẻ nhỏ nhảy nhót tưng bừng,
Mừng nay đã có gạo ăn vừa xài.
Cuộc đời bỉ cực thới lai,
Hết cơn vận bĩ tới ngày vinh sang.
Nom na góp để ít hàng,
Cầu cho trăm họ khi nhàn ngâm nga.
Chúc đời mau sớm âu ca,
Lấy lòng nhơn đức xây tòa non sông.
Cao Biền được vua Đường Trung Tông phong làm An Nam Tiết Độ Sứ, sang đô hộ nước ta. Cao Biền là 1 nhân vật rất giỏi về khoa địa lý nên trước khi đi sang nước ta nhậm chức, vua Đường Trung Tông đòi vào triều ủy thác sứ mệnh cho Cao Biền phải tìm các nơi thủy tú sơn kỳ trên đất nước ta, nơi nào có Long Mạch lớn, có huyệt kết tốt thì phải yểm phá, và lập bản tấu thư về cho vua Đường Trung Tông biết. Sau khi sang nước ta, Cao Biền vận dụng hết khả năng và thời gian đi khắp các nơi để tầm long điểm huyệt. Chính Cao Biền cũng không ngờ trên 1 đất nước nhỏ bé như nước ta lại có nhiều Long Mạch lưu tụ và khí thế sông núi ưu tú đến như vậy. Nên Cao Biền không viết tấu thư mà viết hẳn 1 cuốn sách tựa đề là “Cao Biền tấu thư địa lý kiểu tự” gởi về tấu trình. Mặt khác Cao Biền lại tìm cách trấn yểm và phá hủy những Long Mạch lớn, phát vương tướng. Xin trích 1 số đoạn trong sách này cho các quý vị tham khảo:” Giao Châu Đô hộ Sứ, thần Cao Biền cẩn tấu vi bản châu địa mạch thế hình thế sự, thần hạnh phát dư sinh thao tỵ hà những, thượng tự thâm sơn, hạ hạ chi đại hải, ngưỡng quan phủ sát, phát tận chân cơ, ký tự thiên hữu, cảm bất khánh kiệt sở kiến văn, thượng tự tự đế vương, vương công, công hầu, vương phi, thứ thần đồng, tú tài, vị chi thị phủ, phục khất phủ lãm giảo quan chi khí, kiến văn cụ lục.
HÀ ĐÔNG
THANH OAI:
_ Đệ nhất: THANH OAI phong
Ấp trung Thanh Uy, hình thế tối kỳ
Thủy lưu tứ vượng, án khởi tam qui
Mạch tòng hữu kết, khí định tả y
Thần đồng tiền lập, quỷ xứ hậu tỳ
Khôi khoa tảo chiếm, phúc lộc vĩnh tuy
Tu phong mạch tận, thừa tự vô nhi.
_ Đệ nhị : CAO XÁ phong
Thanh Oai Cao Xá, chân vi quý long
Thủy khuê tùy mạch, bình dương lai tung
Hoa khai hữu hổ, tinh hiện tả long
Sơn thủy trù mật, khí thế sung giong
Hà tu hợp hải, ngưu giác loan cung
Chủ khách hoàn mỹ, tả hữu vô tòng
Hoa tâm khả hạ, thế xuất anh hùng
Văn khôi hoa giáp, võ tổng binh nhung
Phú quý thọ khảo, kiêm hữu kỳ công.
……..”
=>
Giao Châu Đô hộ Sứ, thần Cao Biền kính cẩn tâu: Bản châu địa thế như vầy, thần nguyện đem hết kiếp sống thừa, từ tận núi cao ra đến biển cả khảo nghiệm để biết các cuộc đất phát lớn từ vương tôn công hầu, đến thần đồng, tú tài, khoa đệ, giàu sang phú quý mọi thứ… làm bản tấu ca dâng lên tường tận
HÀ ĐÔNG
THANH OAI :
1/. Cuộc đất Thanh Oai:
Trong ấp Thanh Oai, hình thế rất lạ
Thủy vượng 4 phương, án phát tam qui
mạch kết bên hữu, khí dựng phía tả
Thần đồng đứng trước, quý sứ nối sau
Bảng vàng sớm chiếm, phúc lộc dồi dào
Nên phòng mạch tận, không con nối dòng.
2/. Cuộc đất Cao Xá :
Thanh Oai Cao Xá, thật có quý địa
Nước khe theo mạch, về nơi đất bằng
Hoa nở bên Bạch Hổ, sao hiện bên Thanh Long
Sơn thủy dồi dào, khí thế sung mãn
Cần gì hợp biểu, ngưu giác loan cung
Chủ khách đều tốt, tả hữu 1 lòng
Lòng hoa rộng mở, thế phát anh hùng
Văn chiếm đầu bảng, võ chiếm nguyên nhung
Sống lâu phú quý, lập nhiều kỳ công.
…..”
Theo quyển “Tấu thư địa lý kiểu tự” Cao Biền ghi tất cả là 632 huyệt chính, và 1517 huyệt bàng trên khắp các tỉnh như:
_ Hà Đông : 81 chính - 246 bàng
_ Sơn Tây : 36 chính - 85 bàng
_ Vĩnh yên
Phú Yên 65 155
Phú Thọ
_ Hải Dương
Hưng Yên 183 483
Kiến An
_ Gia Lâm 134 223
Bắc Ninh
Đáp Cầu
Bắc Giang
Lạng Sơn
_ Hà Nam
Nam Định 133 325
thái Bình
Ninh Bình
Theo thống kê trên, cũng đủ thấy công phu tầm long điểm huyệt và trấn yểm của Cao Biền đến bực nào rồi.
Các truyền thuyết về Cao Biền còn lưu lại rất nhiều trong dân gian VN ta. Như ở Phú Yên, tương truyền có mả Cao Biền ở đó, đấy là 1 độn cát nơi chân núi dưới biển. Độn cát không lớn lắm, nhưng không bao giờ san bằng được vì 4 mùa gió cát vun lên. Dân trong vùng có câu phong dao:
Ngó lên hòn núi cả thấy mả Cao Biền
Thấy đôi chim nhạn đang chuyền nhành mai.
Theo truyền thuyết thì từ thuở xa xưa, Cao Biền đã vun biểu tượng mả để trấn yểm dân VN. Vì thuật địa lý giỏi nên ông ta đã tìm 1 nơi 4 mùa cát vun để ngôi mả đó không bị mất đi.
Trong quyển “Địa dư bình Định” của ông Bùi Văn Lăng viết từ năm 1930 cũng có đề cập đến di tích Cao Biền như sau: “Dọc theo đường QL số 1 chạy ra đến Phù Cát có đá Cao Biền. Đó là 1 cái thẻ thời xưa Cao Biền trấn yểm. Thẻ ấy bằng đá và chôn rất sâu. Thuở xưa dân làng đã có nhiều lần thuê voi về nhổ, nhưng nhổ không lên”.
Ở Phù Mỹ, đường đi Đề Gi có 1 cụm núi nhỏ, cách đó không xa, lại có 1 hòn đá lớn nổi lên rất ngộ nghĩnh. Theo truyền thuyết thì đó là nơi Cao Biền đã dùng phép trấn yểm thuở xưa.
Bạn chỉ cần đăng ký theo link sau để có 1 account rapidshare miễn phí. Nhanh nhan kẻo hết.
Bài này hướng dẫn dl cho những ai không có Premium account.
Dùng chương trình tự động tìm proxy:
Tự động tìm proxy
Premium mega link
a/ Dùng firefox:
b/ Dùng CMS Grabber 1.4.7C:
c/ Dùng USDownloader 1.3.4 b8:
Tải phần mềm:
Ai Cập Huyền Bí
(Một Đêm Với Thần Tượng Sphinx)
tác giả: Paul Brunton-Bản dịch: Nguyễn Hữu Kiệt
Người du khách cuối cùng đã về; người hướng dẫn viên cuối cùng đã lập lại đến cả ngàn lần những điều hiểu biết của mình để giới thiệu cho du khách ngoại quốc về xứ cổ Ai Cập. Một bầy lừa mệt mỏi và đàn lạc đà bất kham đã lần bước chậm chạp trên đường về với những du khách cuối cùng trong ngày.
Trong khung cảnh xứ Ai Cập, bóng hoàng hôn có một vẻ đẹp siêu nhiên và khó quên. Mọi vật đều khoe màu đổi sắc, giữa khoảng trời đất bao la nổi bật lên những khoảng tương phản lạ lùng.
Tôi còn ngồi lại một mình trên bãi cát vàng, đối diện với pho tượng Sphinx hùng vĩ oai nghiêm tuyệt trần. Tôi nhìn một cách say mê cái cảnh tượng những màu sắc mỏng manh như sương phai mờ dần một cách nhẹ nhàng, trong khi mặt trời lặng đã cất đi những ánh vàng lộng lẫy trên nền trời Ai Cập. Những ánh lửa diệu huyền, nét huy hoàng tuyệt đối mà mặt trời lặn của Châu Phi còn bỏ sót lại trong không gian, có ai tiếp nhận bức thông điệp thiêng liêng của trời mà không cảm giác được trong giây lát cái phút lạc lõng của cõi Thiên Đàng? Niềm phúc lạc đó sẽ còn tồn tại khi con người chưa đến quá nỗi trụy lạc trong vòng trần gian ô trược, trong sự sa đọa tâm linh, nó sẽ tồn tại khi con người còn biết yêu vần Thái Dương này là nguồn gốc của sự sống và của bao nhiêu màu sắc huy hoàng lộng lẫy xuất hiện trước mắt ta. Cổ nhân xứ Ai Cập thật ra đã không kém minh triết khi họ tôn thờ RÂ, biểu tượng ngôi mặt trời, mà trong thâm tâm họ coi như một vị Thần…
Trong bối cảnh hoàng hôn Ai Cập, dưới một nền trời xám ngắt đã tối mờ dần, tôi nhìn pho tượng đá Sphinx mỗi lúc càng sậm màu, cho đến khi những tia nắng vàng sậm cuối cùng đã tắt hẳn và không còn chiếu vào gương mặt lạnh lùng bí hiểm của nó nữa. Hình thần tượng Sphinx nhô lên giữa bãi sa mạc mênh mông gương mặt khổng lồ, than hình nằm duỗi ra, trải qua nhiều thế hệ đã từng gây sự sợ hãi cho những người Ả Rập dị đoan, và làm ngạc nhiên những người du khách hoài nghi, mà bằng chứng là những câu hỏi từ người lữ khách, lần đầu tiên con quái vật khổng lồ xuất hiện trước đôi mắt kinh ngạc của họ. Pho tượng đá bí hiểm mình sư tử đầu người này có một sức hấp dẫn rất lạ lùng và phức tạp đối với bao nhiêu thế hệ du khách. Nó là một sự bí mật đối với người Ai cập, và một bài toán bí hiểm cho toàn thế giới. Ai đã điêu khắc ra nó? Vào thời đại nào? Không ai biết được. Nhà Ai Cập học chuyên môn nhất cũng chỉ đưa ra những giả thuyết vu vơ về ý nghĩa và lịch sử của hình thần tượng Sphinx.
Dưới ánh sáng le lói cuối cùng của một ngày đã tàn, đôi mắt tôi ngừng lại trên đôi mắt bằng đá của pho tượng thản nhiên bất động. Nó đã từng thấy hằng bao nhiêu là tỷ ức người lần lượt đến trước mặt nó, với những cái nhìn im lặng, đưa ra những câu hỏi không lời và không giải đáp, rồi bước chân ra về trong sự hoang mang! Nó đã từng thản nhiên lặng nhìn châu Atlantide bị tràn ngập dưới cơn đại hồng thủy và biến mất dưới lòng biển sâu. Cái nụ cười thoảng qua của nó đã từng chứng hiến công trình vĩ đại của vua Mena, vị Quốc Vương Ai Cập đầu tiên đã đổi dòng sông Nile yêu quý của người Ai Cập và bắt nó chảy qua một đường hướng khác. Cái nhìn im lặng đượm mùi mến tiếc của nó đã từng thấy nhà tiên tri Moise, nghiêm cẩn và ít nói, từ giả nó lần cuối cùng. Câm lặng và đau thương, nó đã nhìn thấy những nỗi đau khổ của xứ Ai Cập bị tàn phá, suy vong sau cuộc xâm lăng của vị bạo chúa Cambyse, hoàng đế nước Ba Tư. Có lẻ vừa thích thú vừa khinh bỉ, nó từng nhìn thấy nữ hoàng Cléopâtre đẹp lộng lẫy và kiêu hãnh trong chiếc thuyền rồng mũi trạm vàng, buồm may bằng nhung đỏ thắm và mái chèo đúc bằng bạc. Nó từng sung xướng nhìn thấy đức Jesu trên đường đi tìm đạo lý phương đông để chuẩn bị chờ ngày thi hành sứ mạng, ngày mà đức Chúa Cha gửi Ngài đi truyền bá cho thế gian một thông điệp thiêng liêng về đức nhân từ bác ái. Như một kẻ báo hiệu không lời, biểu tượng Sphinx chào mừng Bonaparte, khí cụ của định mệnh các nước Châu Âu, trước khi tên Mã Phá luân nổi bật làm lu mờ những tên khác, và ngay khi ông ta hãy còn là một nhân vật chưa tên tuổi, chưa đặt chân xuống chuyến thuyền Bellérophon để sang chinh phục xứ Ai Cập. Nó cũng nhìn thấy, với ít nhiều bi ai, toàn thể thế giới chú ý đến Ai Cập khi ngôi lăng tẩm của một vị Pharaon, vua Ai Cập thời cổ bị khai quật lên để cho người đời tọc mạch nhìn xem xác ướp của vua với những đồ ngọc ngà châu báu.
Thật vậy, đôi mắt bằng đá của pho tượng đã từng chứng kiến những điều đó và nhiều điều khác nữa. Nhưng bây giờ nó nhìn thấy gì? Không màng để ý kẻ thế nhân phàm tục đang bôn tẩu trên đường danh lợi, thản nhiên trước nỗi sung sướng, khổ đau của nhân loại, hình như biết rõ cái định mệnh đã ghi sẵn tất cả mọi biến cố lớn của trần gian, đôi mắt bằng đá kia nhìn thẳng vào cõi vô cùng…
Hình thần tượng Sphinx đã chuyển màu xám sang màu đen, rồi một màu đen như mực, nền trời đã mất cái nét xám bạc của lúc ban chiều, tất cả điều đắm chìm trong đêm tối, chúa tể của sa mạc. Nhưng pho tượng vẫn còn hấp dẫn sự chú ý của tôi và làm cho tôi bị thu hút như do mãnh lực của một luồn từ điện vô hình. Đó là vì tôi cảm thấy rằng màn đêm rủ xuống đã đem pho tượng trở về nguyên quán của nó. Cái bối cảnh đen âm u, đó mới đúng là cái bối cảnh thực sự của nó. Những gì là thần bí của một đêm Châu Phi tạo cho nó một bầu không khí thích nghi. Cũng trong những giờ ban đêm mà Râ và Horus, Isis và Osiris, những vị Thần Linh của xứ cổ Ai Cập, luôn luôn trở về với nhân gian. Tôi nhất định đợi lúc trăng lên và sao mọc để nhìn thấy một lần nữa cái chân tướng của hình thần tượng Sphinx. Tôi ngồi một mình giữa đóng cát bao la, nhưng tôi không cảm thấy cô đơn, thật vậy, cảm giác cô đơn hiu quạnh không thẻ nào có được với tôi.
Ban đêm, tôi có thể ngắm nhìn thần tượng Sphinx dưới cái khía cạnh mà ít người du khách được nhìn thấy. Tạc trong khối đá, in trên nền trời xanh như chàm, cao bằng một ngôi nhà lầu bốn tầng, con sư tử đầu người khổng lồ vươn mình nằm dài trong thung lũng của đồng cát. Dưới ánh trăng sao vừa ló dạng, những nét hùng vĩ của nó hiện rõ lần lần. Đó là cái biểu tượng lạ lùng của một xứ Ai Cập mà nguồn gốc bí ẩn được truy nguyên đến những thời đại xa xăm vô định. Giống như con vật nằm canh gát những bí mật của thời tiền sử, nghĩ đến những thế hệ của châu Atlantide mà ký ức mong manh của người đời không còn nhớ đến nữa, pho tượng đá khổng lồ chắc cũng sẽ còn tồn tại mãi qua mọi thế hệ văn minh của loài người hiện nay, và nó cũng sẽ giữ nguyên vẹn không hề tiết lộ sự bí mật nội tâm của nó. Gương mặt khắc khổ và uy nghiêm của nó không phản ánh một điều gì, đôi môi khép chặt của nó vẫn giữ một sự im lặng muôn đời. Nếu pho tượng Sphinx có giữ gìn cho nhân loại một thông điệp ẩn dấu nào mà nó đã chuyển đạt qua nhiều thế kỷ cho một số rất ít người hữu hạnh có một năng khiếu linh cảm khác thường, thì điều bí mật đó có khi sẽ được nhắn nhủ thầm bên tai của người thí sinh tầm đạo.
Đêm tối dành cho hình thần tượng Sphinx một khung cảnh tuyệt hảo. Ở phía sau, bên mặt và bên trái pho tượng là “Thành phố của người chết,” một khoảng đất rộng dẫy đầy những nấm mộ hoang cùng lăng tẩm.
Chung quanh vùng cao nguyên lởm chởm những núi đồi và đá tảng nhô lên từ dưới đồng cát ở phía nam, phía tây và phía bắc pho tượng Sphinx, những lăng tẩm và mồ mả được xây cất chứa những cổ quan tài đựng hài cốt và những xác ướp của những vị vua chúa, các vị đại thần và chức sắc của triều đình hay tôn giáo của xứ Ai Cập thời cổ.
Không có một ngôi lăng tẩm nào mà khi bước vào mà người ta không thấy cỗ quan tài bật nắp ra và những đồ vàng ngọc châu báo tô điểm xác ướp đã bị lấy đi mất. Sự cướp bóc này đã xảy ra cùng lúc với sự khai quật những nấm mồ trong những cuộc đào xới để khảo cổ. Người ta chỉ lại tại chỗ những pho tượng nhỏ và những bình, vại chứa đựng ruột gan của những xác chết đã đem ướp bằng chất hương liệu. Ngay ở xứ Ai Cập thời cổ cũng đã có những kẻ trộm đào mồ, khi dân chúng nổi loạn chống giai cấp thống trị càng ngày càng trở nên suy tàn, họ trả thù bằng cách khai quật mồ mả và cướp bóc nơi nghĩa trang rộng lớn của nhà vua, tại đây những vị đại thần được cái vinh dự yên nghĩ giấc nghìn thu bên cạnh xác ướp của các bậc vua chúa mà họ đã phụng sự từ thuở sinh tiền.
Một số ít những người chết mà xác ướp thoát khỏi bàn tay cướp bóc của những kẻ trộm đầu tiên, đã nằm yên nghỉ trong một thời gian khá lâu cho đến khi người Hy Lạp, người La Mã và người Ả Rập lần lượt thay phiên nhau đến đánh thức họ. Những ngôi mộ, lăng tẩm nào thoát khỏi cướp bóc và khai quật trong những cuộc biến cố sau này, được yên nghỉ thêm một thời gian khá lâu nữa cho đến đầu thế kỷ mười chín, khi các nhà khảo cổ hiện đại ra công thám hiểm dưới lòng đất của xứ Ai Cập để tìm kiếm những gì mà kẻ trộm thời xưa còn sót lại chưa lấy đi. Như thế há phải chẳng tội nghiệp cho những bậc vua chúa, vương hầu bất hạnh của thời xưa, tuy xác ướp họ còn nằm đó, mà bị người ta khai quật mồ mả và cướp bóc kho tàng? Dầu cho những xác ướp của họ không bị dập tan ra từng mảnh do bàn tay bạo tàn của những kẻ trộm báu vật, thì những xác ướp đó cũng đã bị giam cầm cho nằm yên nghỉ trong những cổ tàng viện để làm thỏa mãn sự tò mò và làm mụch tiêu dị nghị bình phẩm của mọi người.
Đó là cái bối cảnh rùng rợn của thần tượng Sphinx khi nó vươn mình và nhô đầu dậy trong cô đơn tịch mịch giữa đồng cát. Nó đã từng quan sát những hầm tối trong “Thành phố của xác chết,” lần lượt bị sự cướp bóc của người dân Ai Cập nổi loạn và quân xâm lăng Ả Rập. Vị quản thủ đồ cổ Ai Cập tại bảo tàng viện British Museum là ông Wallis Budge không làm ai ngạc nhiên khi ông đi đến kết luận rằng: “Thần tượng Sphinx là để đuổi tà ma ra khỏi những nghĩa địa và lăng tẩm ở vùng chung quanh.” Cũng không ai ngạc nhiên mà thấy rằng ba ngàn bốn trăm năm trước, vua Thoutmès thứ tư của Ai Cập có cho khắc vào một tảng đá lớn mà ông đặt ngay trước ngực tượng Sphinx, hàng chữ: “Một sự bí mật linh thiêng đã từng bao phủ vùng này từ lúc sơ khởi, vì gương mặt của pho tượng Sphinx là một biểu tượng của thần Khepera, vị thần của sự Bất Tử, chúa tể các vị thần linh và ngự trị vùng này. Dân chúng ở thành Memphis và ở khắp địa phương cùng đưa tay lên để cầu nguyện trước mặt Ngài”.
Như vậy không ai còn lạ gì mà thấy dân Ả Rập ở làng Gizeh gần bên có nhiều truyền thống rất dồi dào về những chuyện vong linh và âm hồn thường lởn vởn ban đêm trong bầu không khí chung quanh hình thần tượng Sphinx, một nơi họ cho rằng có nhiều ma nhất thế giới! Phải chăng bằng cách ướp xác những nhân vật quyền quý của thời xưa, người cổAi Cập đã kéo dài trong một thời gian vô hạn định sự tiếp xúc giữa những vong linh thời cổ với nhân loại chúng ta ngày nay?
Quả thật ban đêm là lúc mà người ta có thể ngắm nhìn thần tượng Sphinx một cách thú vị nhất. Vì dường như ban đêm là lúc mà cõi giới âm linh có vẻ gần gủi với ta hơn, tâm hồn ta sẵn sàng mở rộng đối với những cảm giác bất ngờ, trong khi ở chung quanh ta, dưới màn đêm bao phủ, thậm chí những hình thể vật chất thô kệch cũng thoát lấy một vẻ mờ ảo u huyền. Màn trời ban đêm đã trở thành màu chàm pha lẫn màu đỏ thắm, một thứ màu thần bí phù hạp với sự tìm tòi thám hiểm của tôi.
Đêm tối kéo dài một cách từ từ êm ả và câm lặng như một con heo, nếu người ta không để ý đến những tiếng rú rùn rợn giống như tiếng người của vài con beo đốm trong sa mạc, là những tiếng động duy nhất điểm giờ khắc trôi qua. Chúng tôi vẫn ngồi đó, thần tượng Sphinx và tôi, dưới ánh sao vằng vặc của nền trời Châu Phi, sự giao cảm giữa chúng tôi mỗi lúc càng thêm sâu đậm; từ sự quen biết nhau, chúng tôi tiến đến tình bạn, có lẽ chúng tôi bắt đầu hiểu nhau ít nhiều.
Khi tôi đến với nó lần đầu cách đây vài năm, nó nhìn ra chỗ khác, yên lặng và khinh ngạo. Khi ấy tôi là gì đối với con vật khổng lồ này, nếu không phải là một kẻ phàm tục như bao nhiêu kẻ khác, là những sinh vật náo động đi bằng hai chân, làm bằng những chất liệu kiêu căng, tự mãn, những dục vọng phù phiếm và những tư tưởng điên rồ? Về phần tôi, tôi đã tưởng nó là biễu tượng của một chân lý mà chưa ai tìm ra, một biểu tượng khổng lồ bí hiểm mà mọi lời cầu nguyện không được giải đáp và rốt cuộc chỉ rơi vào khoảng hư vô. Tôi đã bước ra về, hoài nghi và thất vọnh hơn trước, chán nản cõi trần gian tục lụy và lòng tràn ngập những nỗi niềm cay đắng.
Nhưng đó không phải là vô ích mà ngày tháng đã trôi qua. Cuộc đời: đó là sự giáo dục tâm linh và thầy học của chúng ta.
Vị thầy học vô hình ấy đã dạy tôi một hai điều quan trọng. Tôi đã hiểu rằng bầu thế giới của chúng ta không phải xoay trong vòng không gian mà không có mục đích.
Tôi đã trở lại với thần tượng Sphinx, với một tâm hồn già dặn và sáng suốt hơn. Ở lại ban đêm bên cạnh nó trên đồng cát xứ Ai Cập, tôi ngồi tịnh tọa, hai chân xếp bằng, và cố gắng thiền định để suy gẫm về ý nghĩa huyền bí của hình biểu tượng khổng lồ này.
Cả thế giới đều biết hình thần tượng Sphinx và nhận ra gương mặt hủy hoại và tàn phá của nó. Điều mà thế giới không hề biết, là bằng cách nào và tự bao giờ nó được tạc ra trong tản đá nhô lên giữa đồng cát, và những bàn tay nào đã biến khối đá hùng vĩ ấy thành một pho tượng khổng lồ như thế.
Khoa khảo cổ vẫn im lặng, các nhà bác học nghiêng đầu suy nghĩ với một sự hoang mang thầm lặng, vì họ phải gạt bỏ một loạt những giả thuyết mong manh mà từ trước đến nay họ đã từng nêu ra một cách quả quyết và tin tưởng. Họ không dám đưa ra một cái tên nhất định, cũng không dám mạo hiểm ra một ngày giờ chắc chắn. Họ không còn nói rằng thần tượng Sphinx là công trình của vua Khafra hay vua Khoufou, vì họ nhận thấy các tài liệu cổ tạc trên đá đã chứng minh rằng pho tượng đã có sẵn dưới triều đại của các vị vua này. Việc sưu tầm các di tích cổ do những cuộc đào xới phát hiện được, đã đưa ra ánh sáng một bản cổ tự đề cập đến hình thần tượng Sphinx như một công trình điêu khắc mà nguồn gốc đã mất đi trong vực thẳm của thời gian, mà người ta đã tình cờ khám phá ra được sau khi nó đã bị chôn lấp dưới bãi cát sa mạc và hoàn toàn bị lãng quên, không còn ai nhớ đến nữa. Bản cổ tự này xuất xứ từ triều đại thứ tư, gồm những vì vua trị vì xứ Ai Cập cách đây gần sáu nghìn năm. Đối với những vị vua ở vào thời kỳ cổ xưa ấy, hình biểu tượng Sphinx đã là một điều bí hiểm rồi, mà không ai biết có từ lúc nào!
Ban đêm đem lại giấc ngủ, nhưng từ giờ này qua giờ khác, tôi đã cố gắng đánh lui cơn buồn ngủ. Tuy nhiên, trong khi tôi vẫn tiếp tục cơn thiền định suy tư, đôi mí mắt của tôi đã nặng trĩu do sự phản ứng của cơ thể và tôi đã sắp thiếp đi. Bấy giờ thì có hai mãnh lực tương phản đang kình chống nhau để tranh thủ lấy tôi. Một là sự ước muốn mãnh liệt thức luôn suốt đêm như để chia xẻ phiên gác của con sử tử đá Sphinx. Hai là khuynh hướng để cho tinh thần lẫn thể xác của tôi tự thả trôi theo cái thú vị triền miên giữa cảnh vật trầm lặng và huyền ảo của đêm trường tịch mịch. Sau cùng tôi đã hòa giải được cả hai khuynh hướng đó, theo sự thỏa hiệp này, tôi ngồi lim dim, đôi mắt hé mơ chỉ còn là hai cái khe nhỏ xuyên qua đó tôi hầu như không còn nhìn thấy gì nữa, và thần trí mơ màng nữa tỉnh nữa mê, tôi để cho giòng tư tưởng của tôi đắm chìm trong một giấc mơ huyền diệu.
Tôi ngồi một lúc như thế, tự trả trôi theo một sự yên tĩnh triền miên nó xảy ra khi tư tưởng chấm dứt. Tôi mơ như thế được bao lâu, tôi cũng không hay biết nhưng sau một lúc tôi không còn nhìn thấy màu sắc gì nữa, mà thay vào đó, một cảnh tượng sống động xảy ra trước mắt tôi như một cuốn phim. Trong cảnh tượng đó, ánh trăng khuya chiếu vào một tia sáng nhạt mờ huyền ảo…
Chung quanh tôi muôn nghìn gương mặt nắng rám, da sậm đang lăng xăng hoạt động, kẻ tới người lui, kẻ thì đội trên đầu những rổ đá sạn, người thì trèo lên hay bước xuống những giàn tre mỏng manh dựng lên sát cạnh một khối đá khổng lồ. Trong số đó có những người cai truyền khẩu lệnh cho những thợ thuyền, hoặc kiểm soát công việc của những người thợ đá đang sử dụng búa rìu trên ngọn đồi mà họ tạc theo một kiểu mẫu đã vạch sẵn. Những tiếng búa đục của họ giáng xuống liên tiếp vang dội trong bầu không khí chung quanh. Tất cả những người lao công thợ thuyền này điều có một gương mặt dày dạn phong trần, màu da mầu sậm đỏ, hoặc vàng mà hơi sám. Họ có một cái môi trên dày, và thân hình lực lưỡng.
Công việc của họ vừa xong, thay vì một tảng đá dốc đứng kiên cố hùng vĩ trên mặt đất trước kia, nay đã nhô lên một gương mặt người khổng lồ với thân hình một con sư tử đại quy mô xem ra là một con quái vật dị kỳ đang vươn mình trong một thung lũng lớn giữa đồng cát. Trên đỉnh đầu con quái vật, mà cái bờm vĩ đại dợn sóng phủ phía sau hai mép tai, có đặt một cái dĩa tròn bằng vàng khối.
Thần tượng Sphinx!
Những phu thợ đã biến mất. Cảnh vật trở lại lặng im như một nấm mồ vô chủ. Khi đó ta nhìn thấy một biển lớn đang đập sóng trong khoảng không gian bên trái tôi, mà bờ biển chỉ cách đó độ một cây số. Trong cái im lặng đó có một cái gì rùng rợn, tôi cũng chưa kịp hiểu đó là gì cho đến khi từ trong lòng biển đại dương dậy lên mộ tiếng gầm kinh khủng và kéo dài, mặt đất chuyển động và rung rinh dưới chân tôi. Với một tiếng gầm long trời lở đất, nước biển trào lên, một ngọn sóng lớn và cao như vách trường thành từ xa thình lình phóng tới chúng tôi, và nuốt chửng cả con quái vật Sphinx và tôi.
Cơn đại hồng thủy!
Lại một cơn im lặng, nó kéo dài được bao lâu, trong khoảng một phút hay là mười hai năm trường, điều đó tôi không định chắc ra được! Rồi bỗng nhiên tôi lại thấy tôi ngồi dưới chân pho tượng đá. Tôi nhìn chung quanh, không còn thấy biển đâu nữa mà chỉ thấy một khoảng rộng lớn đầy những ao đầm đã gần cạn, và rãi rác đó đây những bãi muối rất lớn đang khô dưới ánh mặt trời. Và ngôi mặt trời ngự trị khắp nơi một cách ngạo nghễ, những bãi cát mỗi lúc càng rộng lớn và càng nhiều. Vầng thái dương vẫn thản nhiên phóng những tia nắng đỏ hút cho đến khô ráo những di tích ẩm ước cuối cùng, và biến khoảng không thành một xứ đầy cát mịn và khô, phản chiếu một màu vàng nhạt.
Bãi sa mạc!
Thần tượng Sphinx vẫn ngắm nhìn cảnh vật, đôi môi dầy, rắn chắc và nguyên vẹn của nó hình như sắp nở một nụ cười, dường như nó cũng mãn nguyện với sự cô đơn độc chiếc. Thật là một sự hòa hợp tuyệt diệu giữa những con quái vật cô đơn với cảnh vật đìu hiu lặng lẽ của vùng chung quanh. Dường như cái tinh thần đơn độc đã tìm thấy sự thể hiện xứng đáng của nó nơi con quái vật khổng lồ và thản nhiên này.
Thần tượng Sphinx vẫn nằm giữa đồng cát như thế cho đến khi một đoàn tàu từ xa tiến đến và ngừng lại trên bờ sông, thả lên bờ một nhóm người. Nhóm người này từ từ tiến đến gần, cúi rạp xuống lạy hình thần tượng và thốt ra những lời cầu nguyện đầy vẻ vui tươi an lạc.
Kể từ ngày ấy, cái im lặng thần tiên đã gián đoạn. Người ta bắt đầu dựng lên những nhà cửa ở vùng thung lũng gần bên, các bậc vua chúa cùng với triều đình và tăng lữ lục tục kéo đến để chầu thần tượng Sphinx, chúa tể của sa mạc và vua không có triều đình!
Tới đây, cái linh ảnh hiện ra trong trí tôi đã chấm dứt, nó vụt tắt như ngọn lửa rụi tàn của một cái đèn đã hết dầu.
Thần Canh Giữ Sa Mạc
Các bầu tinh tú vẫn đua nhau chớp trên nền trời xanh thẫm con trăng thượng tuần vẫn tiếp tục chói rạng trên đỉnh đầu chúng tôi, thần tượng Sphinx có vẻ biến đổi màu sắc vẫn vươn mình một cách hùng dũng dưới ánh trăng bạc. Khi tôi quay đầu qua bên trái là nơi mà trong linh ảnh vừa rồi hiện ra trong trí tôi, tôi đã nhìn thấy biển cả gầm thét như sấm động và nuốt trôi cả vùng đất liền.
Một con dơi, có lẽ lầm tưởng tôi là phiến đá vô tri bất động như cái bối cảnh chung quanh, vỗ đôi cánh đụng vào đầu tôi rồi bay mất, làm cho tôi có cái cảm giác ghê tởm và rờn rợn người nơi sương xuống. Tôi nghĩ rằng có lẽ nó vừa mới chui ra từ trong một cái nấm mồ chôn xác ướp mà người ta vừa khai quật ở vùng gần bên.
Tôi ngắm nhìn cái đồng cát mênh mông chiếm trọn một diện tích ba triệu dặm vuông của vùng sa mạc Sahara, diễn ra đến tận chân trời cho đến chỗ nó giáp ranh với một dãy núi đồi dài dựng đứng như thành quách, che chở xứ Ai Cập và vùng châu thổ sông Nil. Thiên nhiên dường như cố ý dựng lên những dãy đồi của xứ Libye để bảo toàn cho xứ Ai Cập khỏi bị chôn vùi dưới đống cát của bãi sa mạc này.
Mối nguy cơ đó là một sự thật hiển nhiên. Mỗi năm vào đầu mùa xuân, một trận cuồng phong với một sức mạnh và tốc độ kinh khủng, khai chiến với vùng bắc phi và thổi mạnh qua như vũ bão từ bờ biển Đại Tây Dương, xuyên qua trọn cả vùng lục địa Châu Phi. Chẳng khác nào một đạo binh xâm lượt khát máu và tàn bạo, trận gió lớn đi đến đâu, càng quất cát bụi đi đến đấy. Những cơn gió trốt cát bụi đi theo thành những cơn bão cát gieo sự tàn phá khắp nơi, chôn lắp nhà cửa, dinh thự, đền đài và thậm chí chôn luôn trọn cả những thành phố. Đó là cái mãnh lực của những hột cát vàng, nó ngự trị vùng này như một lãnh chúa quyền uy vô địch. Sức mạnh của những cơn bão cát có thể làm cho nền trời hoàn toàn sẫm tối và che khuất cả mặt trời. Những cơn gió trốt cuốn cát dậy lên dày đặc như sa mù ở Luân Đôn, thổi hết tốc lực, rồi nế không có gì ngăn chặn, nó sẽ quét sạch và chinh phục mọi chướng ngại gặp ở dọc đường. Tôi nhìn pho tượng đá Sphinx, những nét trên mặt của nó chỉ hiện ra một cách lu mờ dưới ánh sao khuya, nhưng cái miệng của nó, bề rộng có đến hai thước, đượm một vẻ bi thư hầu như đến rùng rợn, khác hẳn với cái nụ cười hồn nhiên của nhân vật hiện ra trong linh ảnh của tôi khi nãy, là hình biểu tượng Sphinx của thời buổi sơ khai, của thời đại Atlantide. Những cơn gió bão của ca mạc thổi với tốc độ cuồng loạn đã sát phạt gương mặt của nó, cùng với sự hủy hoại do bàn tay phủ phàng thô bạo của những kẻ phàm phu không hề biết kính trọng quỷ thần!
Tự nhiên là những cơn bảo cát đã tấn công hình bi.
Những vị vua Ai Cập Pharaon nay đã hóa ra người thiên cổ, nhưng ngày nay họ còn để lại cho chúng ta những Kim Tự Tháp kiến trúc hùng vĩ, kiên cố dựng trên một vùng cao nguyên nhô giữa đồng cát. Nếu nước cổ Ai Cập vẫn còn hấp dẫn sự chú ý và thích thú của thế giới hiện đại, thì trước hết là nhờ bởi những ngọn tháp này làm bằng chứng của thời đại cổ xưa ấy. Không có một đế quốc Đông Phương nào đã biệt tích mà để lại cho hậu thế những kỳ quan vĩ đại và lạ lùng như thế.
Triết gia Pline khẳng định rằng uy danh của các Kim Tự Tháp Ai Cập sẽ vang dội đến chỗ tận cùng của thế giới. Kể từ ấy đã có hai nghìn năm qua, những thời gian không hề xóa mờ cái uy tín đó. Gần đây tôi có viết thư vài người bạn sống một cuộc đời rất ẩn dật tại một vùng hẻo lánh ở dưới tận cùng miền nam Ấn Độ. Những người này có lẽ không bao giờ đi xa hơn dãy đồi ở vùng chung quanh làng họ ở, họ không hề chọc phá thế gian và thế gian cũng không hề làm phiền họ. Tôi cho họ biết về những công việc sưu tầm mà tôi đang theo đuổi ở ngọn Kim Tự Tháp lớn. Tôi không cần giải thích đó là cái gì và nó ở tại đâu, vì tôi biết chắc họ cũng biết rõ. Bức thư trả lời của họ đã xác nhận sự tin tưởng của tôi. Thật vậy những người Ấn Độ chất phát này đã biết rõ đó là cái gì. Uy danh của những Kim Tự Tháp đã vang dội xa hơn là hồi thời đại của triết gia Pline.
Những ngôi kiến trúc cổ bất chấp sự tàn phá của thời gian này đã hấp dẫn sự chú ý của các nhà bác học cũng như sự tò mò của người đời. Tại sao? Bởi vì chúng xuất hiện từ vực thẩm của một dĩ vãng xa xăm, và cũng bởi vì kích thước quy mô của những ngọn tháp này đã làm ngạc nhiên cả một thế hệ loài người đã từng quen thuộc với lối kiến trúc khổng lồ. Lần đầu tiên mà chúng ta nhìn Kim Tự Tháp, chúng ta có cảm giác như trở về một thời đại cổ xưa lạ lùng, mà nét cổ kính thâm nghiêm biểu lộ rõ ràng ở lối kiến trúc dị kỳ ấy. Chúng ta lấy làm ngạc nhiên mà thấy bằng cách nào những dân tộc cổ xưa đã xây dựng trên một bãi sa mạc khô khan những ngọn núi nhân tạo như thế, không thua kém cả những công trình tạo tác thiên nhiên. Khi những viên tướng soái Hy Lạp tiến vào Ai Cập và nhìn thấy những ngôi kiến trúc phi thường này chỉ mũi nhọn thẳng lên nền trời xanh của vùng sa mạc, họ nín thở vì ngạc nhiên và đứng nhìn trân trối trong im lặng. Khi những nhà hiền triết của thời đại Alexandre soạn một quyển sách nói về những đại kỳ quan của thế giới, họ để Kim Tự Tháp đứng lên hàng đầu. Ngày nay, trong số bảy kỳ quan, chỉ còn cái kỳ quan đầu tiên là còn đứng vững.
Nhưng cái tính cách cổ xưa và kích thước vĩ đại đó dẫu rằng có gây ấn tượng mạnh mẽ cho người đời, cũng chưa phải lý do duy nhất đã làm cho ngọn Kim Tự Tháp có cái uy danh lừng lẫy như vậy. Có nhiều sự kiện được người đời biết rõ hoặc không hề biết về Kim Tự Tháp lớn, có thể gây cho chúng ta một sự kinh ngạc lớn lao không kém sự kinh ngạc mà nó đã gây ra cho người cổ Hy Lạp.
Vậy cổ nhân xây Kim Tự Tháp với mụch đích gì? Thần tượng Sphinx tượng trưng cho cái gì? Đó là hai điều bí mật lạ lùng nhất, hào hứng sôi nổi nhất mà xứ Ai Cập dành cho du khách ngoại quốc cũng như cho dân tộc của họ. Đó cũng là những bí mật khó giải đáp nhất.
Phải chăng Kim Tự Tháp Ai Cập được dựng lên chỉ để làm ngôi mộ tàng trữ cái xác ướp của vua Pharaon? Ta có nên dựa theo những quyển du lịcxh chỉ nam và nhe theo lời của những người chỉ dẫn viên Ả Rập mà tin như vậy chăng? Có lẽ nào người ta lại dựng lên một ngôi kiến trúc vĩ đại với những khối đá tảng hằng mấy người ôm, cắt ra từ vùng núi đá vôi Tourah và cưa ra từ trong động đá đỏ Syène ở xa hơn nữa, chỉ để che lấp một cái thi hài bọc lụa trắng? Có lẽ nào người ta đã phí mất biết bao nhiêu công lao khó nhọc, làm việc ráo riết dưới cái nóng thiêu người của mặt trời Châu Phi, vận chuyển trên ba mươi triệu thước khối đá tảng, chỉ để phục vụ ý muốn sau cùng của một ông vua? Có lẽ nào người ta chịu khó cẩn thận ráp nối hai triệu ba trăm nghàn tảng đá khối, mỗi tảng nặng khoảng hai tấn rưỡi, để làm một cái mộ chỉ cần có vài tảng đá cũng xong?
Những sử gia thận trọng cho biết rằng người ta không hề tìm thấy trong Kim Tự Tháp một quan tài, một xác chết, hay một cỗ xe tang nào, dẫu rằng có vài truyền thống cho rằng một trong những vì vua Ai Cập có cho dựng trước cửa cung một cái hòm dựng xác ướp bằng gỗ trạm trổ rất khéo, mà người ta đã lấy từ Kim Tự Tháp đem về. Trên những vách tường Kim Tự Tháp không thấy có khắc những chữ ám tự hay trạm hình nổi hoặc tranh vẽ những sự việc xảy ra trong thuở sanh tiền của các nhà vua đã băng, nói tóm lại không hề có những gì mà người ta thường thấy bên trong tất cả những ngôi mộ và lăng tẩm khác của Ai Cập. Các vách tường bên trong Kim Tự Tháp đều trống trơn, không trình bày những mỹ phẩm như tranh vẽ, hình nổi, hay ám tự để trang hoàng cho đẹp mắt các vị vua Pharaon tường hay bày biện trong các lăng tẩm của họ, cũng không có dấu vết nào của sự trang trí mà người ta thường thấy ở những ngôi mộ quan trọng nhất ở xứ Ai Cập.
Điều mà có lẽ người ta cho là bằng chứng hiển nhiên nhất của giả thuyết đó là lăng tẩm của một vị vua Ai Cập, là cái hòm trống trơn bằng đá đỏ, không đậy nắm, đặt dưới đất trong phòng lớn mà về sau người ta gọi là Vương Cung. Phải chăng cái hòm đá đã quá rõ rệt là cái quan tài của vua? Đối với nhà Ai Cập Học, điều đó đã hiển nhiên và vấn đề đã được giải quyết.
Nhưng tại sao hai bên chiếc hòm bằng đá này không có khắc những chữ ám tự hoặc tranh vẽ theo thủ tục thông thường của nền tôn giáo cổ Ai Cập? Tại sao không thấy có một chữ nào hay một câu văn tự nào? Mọi cỗ quan tài khác đều luôn luôn có khắc chữ hoặc hình ảnh để lưu lại những kỷ niệm, ký ức về những trường hợp xảy ra chung quanh cái chết của người quá vãng. Tại sao cỗ quan tài này lại là một ngoại lệ, nếu nó là cái quan tài của một trong các vị minh vương nổi tiếng nhất của Ai Cập?
Tại sao ống thông hơi dài trên bảy mươi thước được đặt từ trong phòng đựng cỗ quan tài bằng đá để thông với không khí bên ngoài? Những xác ướp không cần thở không khí, còn phu thợ họ cũng không cần trở lại phòng làm gì nữa một khi họ đã xây xong cái nóc phòng. Không một nơi nào ở Ai Cập tôi thấy có một ngôi mộ của các bậc vua chúa mà có những ống thông hơi với bên ngoài.
Tại sao người ta đặt cỗ quan tài trong một phòng năm mươi thước cao hơn mặt đất, trong khi ở những nơi khác người ta thường đào hầm đặt quan tài sâu dưới lòng đất? Đó là cái tập tục thông dụng khắp xứ, người ta đặt thi hài người chết hoặc dưới lòng đất hoặc trên mặt đất. Há ta chẳng thường nghe nhắn nhủ rằng: “Ngươi là cát bụi, và ngươi sẽ trở về cát bụi.”
Tại sao người ta đặt gian phòng thứ nhì, gọi là Hậu Cung ở gần bên gian phòng thứ nhất? Những vị vua Pharaon không hề được đem chôn ở gần bên các bà hậu phi, và một xác ướp không cần phải có đến hai huyệt. Nếu hậu cung có những hình ảnh hay những chữ ám tự khắc trên vách như phần nhiều những lăng tẩm mồ mả của Ai Cập, thì ở đây người ta có thể coi nó như một hành lang, nhưng đàng này nó cũng trống trơn và không có một bày biện trang hoàng nào như Vương Cung. Và tại sao Vương Cung lại có những ống thông hơi, mặc dù những lỗ thông hơi đều bị bịt kín khi người ta khám phá ra chúng? Tại sao người ta lại thông hơi vào những gian phòng kín mệnh danh là những ngôi mộ này? Và cũng tường nhắc lại, người chết không cần thở khí trời. Không, người ta càng tìm ra cái lý do thật sự của một công trình đòi hỏi bao nhiêu phí tổn về tiền của, thời giờ, nhân lực và nguyên liệu như thế, thì lý trí con người bắt buộc phải loại bỏ cái giả thuyết cho rằng Kim Tự Tháp là những mồ chôn xác người, hay là những kho tài liệu tiên tri bằng đá. Người ta phải quay trở lại tìm sự giải đáp khác.
Cửa vào Kim Tự Tháp mà các du khách dùng hiện nay không phải là cánh cửa chính của người cổ Ai Cập. Cửa chính này từ nhiều thế kỷ vẫn là cái bí mật của Kim Tự Tháp, một bí mật được giữ gìn rất chặt chẽ, cho đến khi một ông vua Ả Rập cương quyết đã chi phí cả một gia tài khổng lồ và huy động cả một đạo binh phu thợ để chọc thủng tấm màng bí mật kia và đã phát hiện ra cái của Kim Tự Tháp đã khép chặt. Từ khi cánh cửa chính bị đóng chặt, thì nhiều thế kỷ đã lặng lờ trôi qua mà bên trong phía Kim Tự Tháp không hề có chân người bước vào, cho đến khi cái giấc triền miên ấy bị khuấy phá bởi những người đi tìm kiếm kho tàng. Sau cùng người ta đã tìm ra cái cửa chính đó vào khoảng năm tám trăm hai mươi. Vua Ả Rập Al Mamoun quy tựu trên cao nguyên Gizeh những viên kỹ sư, kiến trúc sư, nhà xây cất và thợ giỏi nhất của ông ta, rồi ra lệnh cho họ hãy tìm ra cái của vào Kim Tự Tháp. Viên kỹ sư chỉ huy chiến dịch khai phá này mới tâu rằng:
- Tâu bệ hạ, việc này không thể làm được.
- Quả nhân muốn việc này phải được thực hiện.
Công trình khai phá này không theo một kế hoạch nào nhất định. Tục truyền rằng của chính nằm ở mặt phía bắc của Kim Tự Tháp. Tự nhiên là người ta chọn chỗ trung tâm điểm của mặt phía bắc để khởi công. Sự có mặt của vua Ả Rập ở tại chỗ là một sự khích lệ tin thần cho đám phu thợ. Nhà vua muốn trắc nghiệm truyền thuyết cho rằng những vị vua Pharaon thời cổ đã từng chôn dấu Kim Tự Tháp những kho bảo vật khổng lồ. Tưởng cũng nói thêm rằng vua Al Mamoun chính là thái tử của vua Haroun Al Rachid, nhân vật nổi tiếng trong truyện Một nghìn Lẻ Một Đêm.
Vua Al Mamoun không phải là một ông vua tầm thường. Ông ta đã ra lịnh cho những văn nhân trong xứ hãy dịch những tác phẩm của các bậc hiền triết Hy Lạp. Ông luôn luôn nhắc nhở cho quốc dân Ả Rập đừng quên những lợi ích của sự học hành. Chính ông ta đã từng tham dự những cuộc thảo luận giữa những bậc thức giả trong nước.
Những nhà xây cất Kim Tự Tháp thời xưa, tiên liệu rằng thế nhân lòng dạ tham lam sẽ có ngày xúc phạm đến nơi cổ kính thâm nghiêm nầy, mới trổ cánh cửa kính một trỗ ở một khoảng độ vài thước cách điểm trung tâm mặt phía bắc, và cao hơn rất xa chỗ người ta định chắc là chỗ cửa ra vào. Kết quả là những phu thợ của vua Al Mamoun đã làm việc suốt nhiều tháng mà vẫn không tìm ra dấu vết gì của một cửa vào hay lối đi. Họ không tìm thấy gì khác hơn những vách tường kiên cố bằng đá khối dày đặc và cứng ngắc. Nếu họ chỉ dùng những dụng cụ thô sơ như búa đục, thì công trình đục khoét đó có lẽ kéo dài đến hết triều đại của nhà vua hay lâu hơn nữa. Nhưng họ tìm cách đốt những đám lửa nhỏ ở những chỗ ráp nối các tảng đá đến độ nung cháy đỏ, và tưới dấm thanh lên đó cho đến khi các tảng đá nứt nẻ ra. Ngày nay người ta còn nhìn thấy các vết cháy đen xạm trên các tảng đá đã từng kháng cự lại sức búa rìu cách đây trên một nghìn năm. Thợ rèn không ngừng làm việc suốt ngày để mài dũa những búa đục bị sức mẻ vì va chạm với những tảng đá khối, trong khi những loại tảng đá bằng gỗ tiếp sức với lao công để cống gắng chọc lủng một lỗ cửa vào Kim Tự Tháp! Mặc dầu bao nhiêu cố gắng, trải qua bao nhiêu tháng trường dưới sức nóng thiêu đốt của mặt trời Ai Cập, cửa vào Kim Tự Tháp vẫn khép chặt, không ai tìm thấy, và họ bắt đầu chán nản tuyệt vọng. Phu thợ đã đào xới một khoảng trên ba mươi thước, họ đã sắp sửa buông hết dụng cụ và công khai nổi loạn không chịu tiếp tục một công việc vô ích như thế nữa, thì thình lình họ nghe thấy tiếng động của một tảng đá nặng vừa bị rơi xuống. Tiếng động ấy đến từ bên trong Kim Tự Tháp, chỉ cách họ đang làm việc một khoảng không xa.
Định mệnh đã can thiệp vào vụ này. Khi đó, sự hăng say và hứng khởi làm việc đã được hâm nóng lại. Không bao lâu, người ta đã mở đường đưa đến lối vào Kim Tự Tháp lớn từ nay mở cửa lại.
Kể từ lúc đó, người ta có thể đi lần theo con đường ấy để tìm thấy cái cửa bí mật. Cửa này được che dấu một cách khéo léo đến nỗi người ta không thể nào khám phá được từ bên ngoài. Sau bao nhiêu thế kỷ bị khóa chặt, cái cửa bí mật ấy không còn hoạt động được nữa mà dính luôn vào vách. Ngày nay nó đã biến mất, sau những vụ cướp phá để lấy đá về xây nhà sau vụ động đất tại thành phố Cairo. Cửa ấy giống như những cái cửa bằng đá mà người cổ Ai Cập đặt ở những lối vào những đền miếu bí mật của họ. Đó là một tảng đá xoay vòng chung quanh những bản lề và khi khép lại thì nó ăn khớp với mặt tường bên ngoài đến nỗi không ai có thể phân biệt được nó với những tảng đá khác ở chung quanh. Sự ngụy trang khéo léo đó cũng chưa đủ. Bên trong cánh cửa bí mật ấy, lối vào bị chăn lại một cánh cửa bằng gỗ rất nặng. Qua được cửa này, người ta còn phải vượt qua mười cánh cửa khác nữa trước khi lọt vào Vương Cung. Phần nhiều trong số mười cửa này đều bằng gỗ, nhưng có một cửa giống y như cánh cửa đá bên ngoài là một tảng đá khối xoay vòng trên bản lề và ăn khớp với vách tường đá như một cửa bí mật. Tất cả những cửa này về sau không còn.
Sau khi những toán kỹ sư và phu thợ của nhà vua Al Mamoun đã lọt vào bên trong Kim Tự Tháp, họ nhận thấy rằng công việc của họ chưa phải đã xong.
Họ còn gặp phải bao nhiêu chướng ngại vật, những tảng đá khổng lồ chận ngang lối đi mà dụng cụ của họ đem theo không làm sao chọc thủng. Có khi họ phải đục xuyên vách đá để mở một lối đi khác thông qua những dãy hành lang dài đưa đến những gian phòng trống trơn, mà về sau người ta đặt tên là Vương Cung, và Hậu Cung để cho dễ kêu gọi. Thật ra người cổ Ai Cập không hề sử dụng những danh từ đó bao giờ.
Trải qua bao nhiêu gian nan, lao khổ và chướng ngại, khi họ lọt được vào gian phòng gọi là Vương Cung, thì vua Al Mamoun và toán kỹ sư, thợ thuyền đi theo điều lấy làm vô cùng thất vọng. Đó chỉ là một gian phòng trống, với một cỗ quan tài bằng đá, không đậy nắp. Trong cỗ quan tài người ta chỉ thấy có cát bụi, ngoài ra không có gì cả! Họ nghĩ phải chăng đó là một điều phi lý khi người cổ Ai Cập xây cất một ngôi mộ hùng vĩ như thế mà không có mụch đích hay dụng ý rõ rệt? Họ bèn ra công nậy bật lên những tảng đá lót dưới đất, đào xới một góc trong gian phòng, dùng búa đập mạnh vào vách để thăm dò xem chỗ nào có thể là nơi chôn dấu kho tàng. Nhưng vô ích, thâm ý của những nhà xây cất Kim Tự Tháp vẫn là một điều bí hiểm khôn dò và chôn chặt trong lòng đất lạnh. Đoàn người thám hiểm bèn lui gót ra về trong cơn thối trí và tuyệt vọng.
Toán phu thợ còn thám hiểm nhiều đường hầm bí mật và một cái giếng sâu thẳm và đen tối như mật ăn sâu dưới lòng đất, nhưng không hề tìm thấy kho tàng của cải, cùng bảo vật mà óc tưởng tượng loài người vẫn tin rằng có thật và vẫn nằm im một góc bí mật nào đó trong Kim Tự Tháp! Đến đây kết thúc cuộc phiêu lưu đáng ghi nhớ của vua Al Mamoun sau khi ông ta đã mở được cánh cửa bí mật của Kim Tự Tháp lớn, để mở màn cho những cuộc thám hiểm về sau này trong lịch sử tìm tòi khảo cổ về Kim Tự Tháp Ai Cập.
Sau khi vua Al Mamoun đã tìm ra cái cửa bí mật vào Kim Tự Tháp, nhiều thế kỷ đã trôi qua một cách lặng lẽ không ai dám bước vào bên trong ngọn tháp này. Sự truyền tụng trong dân gian không bao lâu đã bao trùm ngôi Kim Tự Tháp với một bầu không khí dị đoan mê tín và rùng rợn với nhiều truyện huyền thoại kinh dị đến rợn người! Bởi đó người dân Ả Rập tránh việc đi vào Kim Tự Tháp như người ta tránh ôn dịch. Chỉ có những tay phiêu lưu mạo hiểm mới thỉnh thoảng đột nhập vào để thám hiểm bên trong Kim Tự Tháp. Phần lớn những hành lang đen tối và những gian phòng trống trơn trong Kim Tự Tháp vẫn tiếp tục yên nghỉ trong cái yên lặng thâm u nghìn đời không người bước chân vào. Mãi cho đến cuối thế kỷ mười tám mới có những người Châu Âu là những người nặng mùi vật chất và không mê tín, đến xem xét những đồng cát chung quanh, và từ đó người ta mới bắt đầu nghe lại những tiếng búa đục vang dội bên trong ngọn tháp cổ này.
Một người Anh có tinh thần phiêu lưu tên là Nathaniel Davison, lãnh sự Anh tại Alger vào khoảng năm một ngàn bảy trăm sáu mươi, xin nghỉ phép dài hạn để sang Ai Cập. Ngọn Kim Tự Tháp làm cho ông ta suy nghĩ rất nhiều. Ông ta biết rằng người cổ Ai Cập thường chôn dấu trong ngôi lăng tẩm các vị vua chúa của họ một số vàng ngọc châu báu. Ông ta cũng biết dư luận chung của người đời coi những Kim Tự Tháp như những ngôi mộ khổng lồ.
Khi ông ta lọt được vào bên trong Vương Cung, ông ta khám phá được một việc: Mỗi khi ông ta hô lên một tiếng lớn thì có một tiếng vang dội lại nhiều lần liên tiếp. Ông ta mới nghĩ rằng chắc là có một gian phòng trống gần đâu đây, ở phía sau những tảng đá đỏ bao bọc chung quanh gian phòng đầu tiên. Có thể rằng trong cái khoảng trống ấy, nguyên nhân gây ra tiếng vang dội nói trên, có nằm yên nghỉ một cái xác ướp quấn hàng lụa và có mang theo những đồ châu ngọc và bảo vật quý giá.
Ông Davison bèn chiêu mộ vài người phu thợ và bắt tay vào việc. Từ nhiều thế kỷ trước, vua Al Mamoun đã thăm dò cái nền đá trong Vương Cung, nhưng không tìm thấy gì. Những tiếng vang phản dội tiếng kêu của ông Davison dường như vọng lại từ phía trên. Ông ta mới chú ý đến cái nóc Vương Cung. Khi xem xét kỹ lưỡng trần nhà và những hành lang chung quanh, ông ta thấy rằng phương pháp tiện lợi nhất để trổ lên nóc nhà là đào một lỗ trống ở phần trên tường của dãy hành lang lớn để xen xét cho chắc thì lấy làm ngạc nhiên mà thấy rằng ngay tại chỗ ấy đã có sẵn một cái lỗ trống. Ông ta bèn chui vào và thấy một gian phòng chiều dài độ bảy thước, ở ngay trên trần của Vương Cung. Cái nóc của gian phòng này rất thấp đến nỗi ông Davison phải bò trên hai đầu gối để tìm cái kho tàng vô giá nó đã hấp dẫn ông đến đây. Nhưng gian phòng hoàn toàn trống rỗng! Ông ta bèn trở về Alger tay không. Ông ta chỉ được cái vinh dự là những nhà khảo cổ đến sau ông đã lấy tên ông để đặt tên cho cái gian phòng nhỏ hẹp mà ông đã khám phá trên nóc Vương Cung!
Trong những năm đầu của thế kỷ mười chín, người kế nghiệp của ông Davison trong công việc tìm tòi ở Kim Tự Tháp là một nhân vật lạ lùng, gồm những đặt tính của những triết gia mơ tưởng, một nhà thần bí và một nhà khảo cổ. Đó là đại úy Caviglia, một người Ý Đại Lợi. Ông đã dành một thời gian khá lâu cho việc sưu tầm ở Kim Tự Tháp. Lord Lindsay, người đã gặp ông ta trong một chuyến du hành sang Ai Cập, có viết một bức thư gửi về Anh Quốc như sau:
“Caviglia có nói với tôi rằng y đã dành cho việc học hỏi khoa Huyền Môn một sự hăng say đến nỗi làm cho y suýt chết. Y tuyên bố đã đạt tới cái giới hạn tùng cột trên lãnh vực Huyền Môn bị ngăn cấm với tầm hiểu biết của con người. Chỉ có sự trong sạch trong ý đồ của y đã cứu được y. Y có những tư tưởng lạ lùng, nó không phải là của trần gian. Y cho rằng là rất nguy hiểm mà tiết lộ những tư tưởng đó… “
Trong công cuộc sưu tầm khảo cổ của ông, Caviglia tạm trú một thời gian trong gian phòng Davison, sau khi ông đã dọn dẹp cái phòng thấp và tối tăm đó thành một gian phòng để ở ngay trong Kim Tự Tháp! Công trìng khảo cổ của ông không phải chỉ là giới hạn trong Kim Tự Tháp lớn mà thôi. Ông còn để lại cho đời những sưu tầm trong hai Kim Tự Tháp thứ nhì và thứ ba, sự thám hiểm những hầm chôn xác ướp ở giữa các Kim Tự Tháp và thần Sphinx, việc khai quật vài cỗ quan tài quan trọng và những di tích lạ lùng khác của nền văn minh cổ Ai Cập.
Vào thời đại của nữ hoàng Victoria, định mệnh đã đưa sang Ai Cập một viên sĩ quan ưu tú của quân đội Hoàng Gia Anh Quốc, kiêm một nhà khảo cổ học uyên bác, đó là đại tá Howard Vyse. Ông ta đã huy động hàng trăm phu thợ để thực hiện những cuộc đào xới chung quanh các Kim Tự Tháp trong một công trình thám hiểm đại quy mô chưa từng có từ một nghìn năm nay, kể từ thời đại của vua Al Mamoun. Ông ta đã kêu gọi sự hợp tác của đại úy Caviglia trong một thời gian, nhưng hai người lại xung đột nhau vì tính khí bất đồng; một người Anh kỹ lưỡng, cẩn thận, trọng nguyên tắc kỷ luật và một người Ý tay ngang, bất chấp những quy ước, cỗ lệ, đành phải sớm xa nhau.
Đại tá Vyse đã chi phí cho công trình khảo cổ của ông ở Ai Cập hết mười ngàn Anh kim tiền riêng của ông và đã thu hoạch được những kết quả cụ thể. Nhiều thùng lớn chứa đầy những di tích cổ và bảo vật lý thú đã vượt biển để sung vào Bảo Tàng Viện Anh Quốc. Nhưng những cổ vật lý thú nhất vẫn còn ở lại tại chỗ.
Ông Vyse đã khám phá bốn gian phòng trong Kim Tự Tháp lớn chồng chất lên nhau ở ngay trên trần nhà của gian phòng Davison. Công việc khám hiểm này không phải là dễ dàng và không nguy hiểm. Trong khi họ đào một lối đi hẹp từ dưới lên trên xuyên qua những nóc phòng đá dày đặc, những phu thợ của ông ta luôn luôn suýt ngã xuống đất từ một bề cao mười thước! Những gian phòng này cũng thấp và hẹp như gian phòng Davison, và cũng hoàn toàn trống trơn không có gì cả.
Do sự khám phá kể trên và khi xem xét cái trần nhà bằng đá vôi của gian phòng ở trên chót đỉnh, người ta mới hiểu lý do của việc xây cất năm gian phòng thấp hẹp chồng chất lên nhau. Đó là để bảo vệ Vương Cung cho khỏi chịu cái áp lực nặng nề của toàn thể khối đá tảng khổng lồ ở phía trên, chẳng khác như một hệ thống trái độn bằng không khí tạo nên bởi những khoảng trống của gian phòng. Việc xây cất hệ thống trái độn này cũng che trở Vương Cung khỏi bị đè bẹp bởi khối đá tảng ở phần trên trong trường hợp có thể xảy ra một cơn động đất làm sụp đổ Kim Tự Tháp. Bởi đó, Kim Tự Tháp đã chống đỡ một cách hữu hiệu sự tàn phá của thời gian trong bao nhiêu nghìn năm và chứng tỏ sự chu toàn cùng cái kiến trúc vô cùng thần diệu của người cổ Ai Cập.
Trong số những điều phát hiện của đại tá Vyse, có một điều lạ lùng là một loạt những chữ ám tự này chưa hề thấy trong Kim Tự Tháp. Những chữ ám tự này do những người đá khắc trên mặt những phiến đá tảng dùng để xây cất năm gian phòng kể trên. Trong những ám tự ấy có những tên của ba vị vua Ai Cập, là Khoufou, Khnem. Khoufou, và Khnem. Các nhà Ai Cập Học không thể đưa ra sự giải thích nào khác về cái tên khnem vì họ không tìm thấy tài liệu lịch sử về một vị vua Ai Cập nào có cái tên đó. Nhưng họ biết rõ tên vua Khoufou: Đó là vị vua Pharaon của triều đại thứ tư, mà người Hy Lạp gọi là vua Khéops. Sự khám phá của ông Vyse đã đưa đến việc xác định vua Khoufou là người đã xây dựng nên Kim Tự Tháp, và xác định Kim Tự Tháp được dựng lên từ thời nào.
Tuy nhiên, cái xác ướp của vua Khoufou không hề được tìm thấy ở bất cứ nơi nào bên trong Kim Tự Tháp.
Tôi sắp sửa đuổi theo một hoạt động lạ lùng nhất của đời tôi, tuy lạ lùng nhưng vẫn trong sự thầm lặng. Tôi có ý định ở lại một đêm trong Kim Tự Tháp và ngồi thức suốt đêm trong Vương cung trong khi đêm tối dày đặc bao phủ nền trời Châu Phi.
Tôi đã ở một đêm trong ngôi kiến trúc kỳ dị nhất mà con người đã từng dựng lên trên bầu hành tinh của chúng ta.
Thật không phải dễ gì mà lọt được vào lúc ban đêm trong Kim Tự Tháp. Tuy mọi người đều có thể viếng ngọn tháp cổ này, nhưng nó không phải là tài sản của công chúng. Nó là tài sản của Chánh Phủ Ai Cập. Không phải ai cũng có thể lọt được vào trong đó và chiếm được một gian phòng trống để ngủ một đêm, chẳng khác như xâm nhập gia cư của người khác và nằm trong phòng ngủ tốt nhất của họ.
Mỗi khi một du khách muốn vào trong Kim Tự Tháp, y phải mua một tấm thẻ của Sở Bảo Trì Cổ Tích với giá năm đồng. Tôi bèn đến đó và xin phép ở lại một đêm trong Kim Tự Tháp lớn.
Khi công chức sở ấy nghe lời thỉnh cầu của tôi, y tỏ vẻ vô cùng ngạc nhiên chẳng khác nào như y nghe tôi xin giấy phép để du hành lên mặt trăng. Tôi nói vài lời vắn tắt để bày tỏ lý do sự yêu cầu của tôi. Từ sự ngạc nhiên, viên công chức bước qua sự thích thú, y mỉm cười. Tôi hiểu rằng có lẽ y coi tôi như một nhân vật có đủ điều kiện để lọt vào một nơi mà ít người muốn ở lại ban đêm trong đó. Sau cùng y nói với tôi:
- Tôi chưa hề nhận được một lời thỉnh cầu như thế bao giờ. Tôi không có thẩm quyền chấp thuận hay từ chối.
Y bèn giao tôi lên cho thượng cấp của y quyết định. Cái cảnh tượng buồn cười ở văn phòng viên công chức lúc nãy lại tái diễn. Tôi bắt đầu cảm thấy bớt lạc quan trong ý định của mình.
- Không thể được! Viên chủ sự nói với một giọng cương quyết tuy rằng đầy hảo ý, chắc hẳn rằng y đang đứng trước một người bị loạn thần kinh. “Điều ấy thật vô lý. Tôi rất tiếc.” Y vừa nói vừa gằn từng tiếng vừa nhún vai, và đứng dậy để sửa soạn đưa tôi ra cửa.
Tôi về nhà ngồi suy nghĩ để tìm cách thực hiện mục đích. Quyết định này của tôi trở nên một sự ám ảnh. Hôm sau, tôi bèn xin vào yết kiến Thiếu tướng El Lewa Russell Pacha, chỉ huy trưởng cảnh sát thành phố Cairo. Tôi ra khỏi văn phòng ông ta với một huấn lệnh viết tay, yêu cầu viên cảnh sát trưởng quận đô thành gồm khu vực Kim Tự Tháp, hãy dành cho tôi mọi sự giúp đỡ cần thiết để thực hiện mục đích.
Chiều đến, tôi bèn đến văn phòng thiếu tá Mackersey, trưởng ty cảnh sát địa phương, bót cảnh sát Mena. Họ đưa cho tôi một quyển sổ để tôi ký tên vào đó, xong rồi bót cảnh sát có phận sự giữ gìn an ninh cho tôi cho đến sáng ngày mai. Một cảnh binh bót Mena được biệt phái để hộ tống tôi đến Kim Tự Tháp và ra chỉ thị cho viên cảnh sát có võ trang túc trực ở phía ngoài trong đêm đó.
Khi chúng tôi bắt tay từ giã, Thiếu tá Mackersey nói đùa:
- Chúng tôi chịu trách nhiệm lớn mà để ông một mình ở trong đó suốt đêm. Ông không có ý định đặt chất nổ để phá Kim Tự Tháp chứ?
- Tôi hứa với ông không bấy nhiêu đó, mà còn hứa sẽ không vác nó lên lưng mà chạy!
- Tôi e rằng chúng tôi phải tạm nhốt ông trong đó một đêm. Cứ tối đến, chúng tôi phải khóa trái cái cửa sắt ở chỗ cổng vào. Như vậy ông bị cầm tù trong mười hai tiếng đồng hồ.
- Tốt lắm! Hôm nay, không có cái dinh thự nào làm cho tôi thích hơn là cái nhà giam đó.
Tôi bước vào trong Kim Tự Tháp do cái khoảng trống mà ngày xưa vua Al Mamoun đã cho đào một gốc để tìm lối vào, và bắt đầu thám hiểm bên trong ngọn tháp không lồ. Thật ra trước kia tôi đã từng bước vào đó rồi, nhưng bây giờ là lần đầu tiên mà tôi đến đây để thực hiện một công trình khảo sát cũng lạ lùng như cái công trình nó thúc đẩy tôi trở lại xứ Ai Cập.
Sau khi đã đi qua những dãy hành lang và đường hầm đen tối quanh co như mê cung, tôi lọt vào gian phòng chính của Kim Tự Tháp, gọi là Vương Cung. Nhưng ống dẫn khí thông hơi ra đến bên ngoài, là những bằng chứng đánh đổ giả thuyết cho rằng Kim Tự Tháp là một ngôi lăng tẩm. Tôi rọi đèn bấm lên các vách và trên trần, và lại một lần nữa lấy làm thán phục sự nối ráp một cách toàn hảo và tinh vi những khối đá rắn chắc và to lớn đã được mài dũa trơn bén. Dưới mặt đất cũng như trên các vách đá, còn những vết tích để lại do những cuộc thám hiểm của những kẻ tìm kiếm kho tàng. Ở một góc về phía tây bắc, có một lỗ vuông dài và sâu, và ở kế bên là một tảng đá dài dựng bên vách, trước kia dùng để lót sàn bằng đá nhưng bị cậy bật lên bởi những kẻ tìm vàng và còn để lại đó. Nằm song song với tảng đá này là một cái hòm bằng đá không có nắp, mặt đá phẳng lỳ không có trạm trổ hay khắc chữ chi cả giống như một cổ quan tài. Đó là vật duy nhất trong gian phòng trống trơn, đầu xoay về hướng Bắc chân xoay về hướng Nam.
Tảng đá cậy bật lên từ dưới đất có thể dùng làm chỗ ngồi. Tôi bèn ngồi lên đó, hai chân xếp bằng và sửa soạn ở lại đó suốt đêm. Tôi đặt xuống bàn tay mặt tôi cái nón, áo ngoài và đôi giày, phía bên trái tôi để cái đèn bấm bật sáng, một bình thủy thermos đựng trà nóng, một bình nước lạnh, quyển sổ tay và cây bút máy. Tôi đưa mắt nhìn một lần cuối cùng khắp chung quanh gian phòng, nhìn qua cái hòm đá ở bên cạnh tôi, rôi tắt luôn ngọn đèn bấm.
Khi tôi đột nhiên đắm chìm trong đêm tối, tôi tự hỏi: Việc gì có thể xảy đến cho tôi đêm nay? Trong hoàn cảnh lạ lùng này, tôi chỉ có một việc là đợi chờ…
Giờ phúc trôi qua một cách chậm chạp, trong khi đó tôi cũng từ từ cảm thấy gian phòng Vương Cung này có một bầu không khí rất lạ mà tôi chỉ có thể gọi bằng tĩnh từ thiêng liêng. Tôi đã cố tình giữ một tinh thần thụ cảm, một cảm giác thụ động, một thái độ tiêu cực, để có thể ghi nhận một cách rõ ràng và toàn vẹn mọi sự gì vượt khỏi lãnh vực phàm gian thực tại. Tôi muốn rằng không có một thành kiến riêng tư nào ngăn cản tôi tiếp nhận sự gì có thể xảy đến từ lãnh vực siêu linh. Lần lần tôi định tĩnh tinh thần cho đến khi tâm trí tôi hầu như vắng lặng, hư không.
Sự vắng lặng nó bao phủ tâm trí tôi lúc ấy đem đến cho tôi một sự hiểu biết rõ ràng về một cái vắng lặng khác, đó là cái vắng lặng tràn ngập cuộc đời tôi. Cõi thế gian, với sự náo động ồn ào của nó, đối với tôi trở nên xa lạ như nó không hề có từ bao giờ. Không một tiếng động, không một hơi thở đến với tôi từ cảnh đêm tối chung quanh. Thật ra, thế giới của những Kim Tự Tháp do im lặng ngự trị một cách im lặng đã có từ thời tiền sử xa xăm và không một người du khách nào có thể làm gián đoạn, bởi vì mỗi đêm lại đem lại sự im lặng trở về nguyên vẹn, hoàn toàn, gây cho ta sự sợ hãi nghiêm trọng nhất.
Tôi bèn quan sát bầu không khí uy nghiêm trong gian phòng. Những người nhạy cảm thường nhận thức được cái kinh nghiệm thông thường này trong những nơi đền miếu cổ kính thâm nghiêm. Kinh nghiệm của tôi cũng bắt đầu bằng cái cảm giác tương tự. Thời gian càng trôi qua, cái ý thức về sự cỗ lổ thậm thâm của ngọn Kim Tự Tháp này càng in dấu vết sâu đậm trong tâm hồn tôi, tôi càng cảm thấy rằng thế kỷ hai mươi đang lui dần và mất dạng. Tuân theo cái quyết định mà tôi đã lập sẵn cho mình, tôi không đưa ra một sự phản ứng nào cả để chống lại cái cảm giác đó, trái lại, tôi để cho nó tăng cường thêm gấp đôi.
Tôi bắt đầu có cái cảm giác lạ lùng về một sự hiện diện vô hình đến gián đoạn sự cô đơn của tôi. Dưới bức màn đen tối dầy đặc bao phủ chung quanh, tôi cảm thấy rằng có một cái gì cựa quậy và sống động bắt đầu xuất hiện. Đó là một cảm giác mơ hồ nhưng có thật. Phối hợp với ý niệm mỗi lúc càng tăng về sự trở về dĩ vãng, nó làm cho tôi có ý thức rõ rệt về một ảnh hưởng siêu linh, thần bí.
Tuy thế, không có gì nhất định, rõ rệt trong cái ý niệm mơ hồ đó về một sự hiện diện lạ lùng và sống động trong bóng tối. Giờ phút trôi qua lặng lẽ, đưa đến một luồng khí lạnh mỗi lúc càng tăng. Ảnh hưởng của ba ngày nhịn đói mà tôi đã áp dụng để tăng gia sự nhạy cảm của tôi, lúc ấy biểu lộ bằng những cơn run rẫy mỗi lúc càng nhiều. Do những ống thông hơi, không khí lạnh từ bên ngoài lọt vào Vương Cung đã thấm vào mình tôi xuyên qua lớp áo mỏng, làm cho tôi run lên cầm cập. Tôi bèn đứng dậy mặc thêm áo ngoài mà tôi đã bỏ trên tảng đá cách đó vài giờ vì e sợ tiết trời nóng nực. Nhưng đó là tiết trời ở một vài nơi tại vùng cận Đông. Khí hậu nóng bức lúc ban ngày, và lạnh lẻo lúc ban đêm.
Tôi ngồi lại trên tảng đá và đắm mình trong cái im lặng chết người và trong đêm tối rùng rợn. Cái im lặng của nhà mồ, cái hòm bằng đá trống trơn ở bên cạnh tôi không làm cho thần kinh tôi lắng dịu, trong khi sự gián đoạn vừa rồi trong cơn thiền định của tôi dường như cũng làm gián đoạn cả một chuyện khác. Thật vậy, tôi nhận thấy rằng điều nghi ngại về một sự sống vô hình lởn vởn ở chung quanh tôi đã trở thành một điều chắc chắn. Quả thật, bên cạnh tôi có một cái gì sống động, thổn thức, nhịp nhàng, tuy rằng tôi vẫn chưa nhìn thấy đó là vật gì. Đột nhiên tôi cảm thấy lo sợ khi tôi nghĩ đến sự cô quạnh của tôi và những nguy cơ có thể xảy đến. Tôi vẫn ngồi yên như thế một mình, trong gian phòng tối ở một chiều cao bảy chục thướt khỏi mặt đất, cao hơn nhiều đối với sự sinh hoạt của một triệu dân thành phố Cairo, ở giữa màn đêm đen tối như mực, bị giam lỏng trong ngọn tháp lạ lùng này mà cửa ngoài đã khóa chặt, ở ven một bãi sa mạc rộng đến hàng mấy trăm dặm, trong khi ở bên cạnh gian nhà ngục tạm thời của tôi trong một đêm, có lẽ là ngôi kiến trúc cổ xưa nhất thế giới, đang chen chúc nhau một cách la liệt hỗn độn bao nhiêu những mồ mả âm u, trong cái nghĩa địa của một đế đô cổ xưa nghìn đời ngày nay đã biệt tích.
Dưới cặp mắt tôi, là cặp mắt đã từng quan sát tỉ mỉ cõi giới siêu linh, những điều huyền bí thuộc cõi siêu hình, và sưu tầm cặn kẽ khoa pháp môn phù thủy của phương Đông, thì gian phòng rộng rãi của Vương Cung lúc ấy có sự hiện diện của những nhân vật vô hình, và những vị Thần linh có nhiệm vụ canh gác ngôi kiến trúc thâm nghiêm này. Dường như một giọng nói từ cõi u minh sắp sửa thốt lên bất cứ lúc nào để phá tan cái im lặng bao la này. Tôi đã từng quen thuộc với sự cô đơn, và tôi rất thích sống trong cô đơn, nhưng sự cô quạnh của gian phòng này có một cái gì nguy hiểm và rùng rợn đáng sợ.
Sự tối tăm nó làm đắm chìm tất cả mọi sự vật, bắt đầu đè nặng lên đầu tôi như một khối sắt nghìn cân. Trong người tôi phảng phất một sự sợ hãy vô lý. Tôi bèn xua đuổi nó đi tức khắc. Người ta không cần có một sự can đảm thể chất để lại bên trong Kim Tự Tháp hoang vắng, mà là cần có ít nhiều can đảm tinh thần. Người ta chắc rằng không có một con rắn nào chui ra từ một cái lỗ hay một khe đá, cũng không có một kẻ sát nhân nào ẩn núp trong đó từ lúc tối trời. Thật ra những sinh vật duy nhất hiện ra trước mắt tôi từ chặp tối là một con chuột sợ hãy chạy loạn cả lên để tìm lối thoát khi nó gặp ánh đèn sáng rực của tôi ở ngoài hành lang, kế đó tôi khám phá ra hai con cắc kè bò ở trên trần của Hậu Cung, màu da vàng đục của chúng cho thấy chúng đã sống rất lâu đời, và sau cùng là những con dơi ở dưới hầm đá. Cần nói thêm là vài con dế đã thốt ra tiếng kêu rất lớn khi tôi bước vào hành lang chính, nhưng khi nghe tiếng động, chúng nó liền im bặt. Và bấy giờ, thì cái im lặng bao trùm khắp Kim Tự Tháp. Không có gì của thế giới vật chất làm tôi bất mãn, nhưng dẫu sao, tôi lại cảm thấy một lần nữa một cảm giác khó chịu mơ hồ dường như có những cặp mắt vô hình đang rình rập tôi ở đâu đây. Chốn này thật là phảng phất một bầu không khí yêu ma hư ảo.
Vài loại rung động của tinh lực, âm thanh và ánh sáng lọt ra ngoài phạm vi khả năng cảm xúc thông thường của con người. Những chương trình truyền thanh đi xuyên khắp không gian để đến tai những thính giả trên thế giới, nhưng họ sẽ không nghe thấy gì nếu họ không điều chỉnh cho máy thu thanh của họ bắt đúng luồng sóng điện. Tôi đã xả thiền và thoát ra khỏi trạng thái hoàn toàn thụ cảm, để dồn tất cả sức mạnh, tập chung ý chí vào sự cố gắng nhằm chọc thủng cái im lặng và bóng tối dày đặt nó bao phủ chung quanh tôi. Nếu do hậu quả sự tập trung tinh thần mãnh liệt vào nội tâm, khả năng quan sát của tôi được nới rộng đến một tầm mức phi thường, thì chừng đó có thể nào tôi không bắt chợt nhìn thấy sự hiện hiện của những sức mạnh vô hình? Biết đâu?
Tôi chỉ biết rằng khi tôi tự điều chỉnh bằng phương pháp hồi quan phản chiếu mà tôi được truyền thụ từ lâu trước chuyến du hành lần hai sang Ai Cập, tôi nhận biết được rằng có những mãnh lực bất hảo đã xâm chiếm gian phòng, có một cái gì tiến lại gần tôi mà tôi cảm thấy là nguy hiểm. Một sự sợ hãi làm rung chuyển tâm hồn tôi. Tôi cố xua đuổi đi thì nó lại trở lại từng hồi. Tôi cố gắng áp dụng phương pháp hồi quan phảng chiếu một cách ráo riết hơn nữa sự nhạy cảm càng tăng theo cái đà thường lệ của nó và biến thành một linh ảnh. Những hình bóng lởn vởn chập chờn vô định trong gian phòng, lần lần chúng nó hiện ra với những hình thù rõ rệt hơn, đột nhiên có những vong linh hung ác xuất hiện và xáp lại gần kề bên gương mặt tôi. Kế đó, một vật đen ngòm tiến lại gần tôi với một cái nhìn dữ tợn và đưa tay lên với một cử chỉ hăm dọa, như muốn gây cho tôi một sự kiêng nể pha lẫn với sự kinh hoàng.
Những vong linh mà người ta không thể lường được tuổi từ bao nhiêu đời, dường như đã kéo nhau lại đó từ cái nghĩa địa gần bên, một cái nghĩa địa cổ xưa đến nỗi những xác ướp quật lên liền tan ra thành tro bụi trong những chiếc hòm bằng đá. Chính những vong hồn còn bám víu xác ướp cổ lổ này, đã xuất hiện một cách hung dữ trong gian phòng của tôi. Tất cả những chuyện huyền thoại về những ma quái lởn vởn ở vòng chung quanh Kim Tự Tháp đã trở lại trong ký ức của tôi, với những chi tiết rùng rợn khi những chuyện ấy được kể lại cho những người Ả Rập ở làng gần bên. Khi tôi nói với một người bạn trẻ Ả Rập tôi có ý định ở lại một đêm trong Kim Tự Tháp, y cố gắng khuyên can tôi:
- Mỗi tấc đất trong đó điều có ma! Vùng này có tất cả một đạo binh yêu ma và thần linh.
Sự cảnh cáo này không phải là vô ích, vì bây giờ tôi có thể nhận thấy đúng như thế. Những hồn ma bóng quế đã xâm nhập vào nơi tạm trú của tôi, và quay cuồng khắp chốn, cái cảm giác khó chịu và khó tả của tôi lúc đầu nay đã được hoàn toàn giải đáp. Dưới một sự căng thẳng như thế, ở chính giữa cái thể xác bất động của tôi, tôi nhận thấy rằng quả tim của tôi đập mạnh như búa bổ. Sự sợ hãy điều quái dị, nó rình rập chúng ta luôn luôn, lại xâm chiếm chiếm lấy tôi một lần nữa. Sự sợ sệt, kinh hãi, khủng khiếp lần lượt đến với tôi và lột trần bộ mặt dữ tợn của chúng. Hai bàn tay tôi tự nhiên nắm chặt lại như những gọng kềm. Nhưng tôi quyết vượt qua cơn thử thách, tuy rằng những hình thù ma quái lúc đầu đã gây cho tôi cảm giác sợ sệt, sau cùng chúng nó làm tôi phải huy động tất cả sự can đảm và tinh thần chiến đấu mà tôi có thể.
Đôi mắt tôi vẫn nhắm, trong khi tất cả những vong hồn màu xám đục, và mờ sương, lướt nhẹ chung quanh và hiện rõ rệt trong linh cảm của tôi, luôn luôn với sự thù nghịch mãnh liệt, sự nhất tâm ráo riết ngăn cản theo đuổi quyết định của tôi.
Cả một đoàn ma quái thù nghịch vây phủ lấy tôi. Tôi có thể giải vây được dễ dàng bằng cách bật đèn bấm hoặc đốt đuốc lên, hoặc đứng lên để thoát mau ra khỏi phòng và chạy một quảng độ vài ba trăm bộ đến cổng ngoài, tại đó người gác cổng có võ trang có thể đem đến cho tôi một sự tăng viện đáng kể. Cơn thử thách bắt tôi phải chịu một hình thức tế nhị của sự cực hình, nó khuấy phá linh hồn tôi, trong khi thể xác tôi vẫn nguyên vẹn. Nhưng đồng thời trong tôi cũng có một sự thúc đẩy mạnh mẽ buộc tôi phải vượt qua giai đoạn thử thách ấy cho đến cùng.
Sau cùng giai đoạn quyết liệt đã đến. Những loài yêu quái hình thù ghê rợn, gớm ghiếc, không thể tả nỗi mà chỉ có ở cõi Âm Ty, những loài ma quỷ hình dung cổ quái, dị hợm, điên rồ, rùng rợn, quái đản, từ đâu kéo đến thật đông chung quanh tôi, sự ghê tởm mà chúng nó gây cho tôi làm cho tôi trảy qua một cơn đau khổ không thể tưởng tượng! Trong vài phúc đồng hồ, tôi đã trải qua những cơn xúc động mà kể từ đó về sau tôi không thể nào quên được. Cái cảnh tượng độc đáo ấy đã được khắc trong ký ức của tôi bằng những nét sâu đậm không thể xóa mờ. Kể từ nay, bất cứ giá nào ở cõi trần gian này tôi sẽ không bao giờ muốn tái diễn cái kinh nghiệm khủng khiếp như đêm nay; tôi sẽ không bao giờ ở lại một đêm nữa trong Kim Tự Tháp.
Cảnh tượng ấy chấm dứt đột ngột lạ thường. Những loài yêu ma, quỷ quái biến mất dạng trong bóng tối mà từ đó chúng đã xuất hiện ra; chúng trở về cõi U Minh của những người đã chết, đem theo luôn với chúng tất cả những sự gớm ghiếc, ghê tởm và rùng rợn. Thần kinh của tôi hầu như bị bẻ gãy hết nữa phần, đã cảm giác được một sự thoải mái dễ chịu lớn lao chẳng khác nào như một lính chiến ngoài mặt trận khi cơn oanh tạc dữ dội đột nhiên chấm dứt.
Không biết bao nhiêu thời gian đã trôi qua cho đến khi tôi ý thức được một sự hiện diện mới trong gian phòng. Đó là một sự hiện diện tốt lành, một nhân vật có thiện cảm, đứng ngay ở chỗ cửa vào và ban cho tôi những cái nhìn đầy hảo ý. Sự có mặt của người này đem đến một sự thay đổi hoàn toàn cho bầu không khí chung quanh, một sự thay đổi rất khả quan và lành mạnh. Một yếu tố mới bắt đầu ảnh hưởng đến con người nhạy cảm của tôi, vừa bị trải qua một cơn đe dọa khủng khiếp, bây giờ thì tôi đã trấn tĩnh và trở về với sự bình yên. Nhân vật ấy bước đến gần tảng đá chỗ tôi đang ngồi, khi đó tôi thấy có một nhân vật khác nữa cùng đi theo sau. Cả hai người cùng đứng gần bên tôi và nhìn tôi một cách nghiêm chỉnh; những cái nhìn của họ chứa đầy một ý nghĩa tiên tri. Tôi cảm thấy rằng một giờ phút quan trọng của đời tôi sắp đến gần.
Hai vị này hiện ra trong linh ảnh của tôi với một hình dáng khó quên. Những tà áo rộng trắng và giầy dép của họ, tất cả đều trở lại trí nhớ của tôi trong khoảnh khắc. Ngoài ra, họ có mang những phù hiệu rõ ràng về chức sắc của họ, người ta nhận ra ngay họ là những vị Đạo Trưởng cao cấp của nền tôn giáo cổ Ai Cập. Một ánh hào quan bao phủ quanh mình họ chiếu một ánh sáng lạ lùng khắp một phần của gian phòng. Thật ra, họ có vẻ đặc biệt hơn những người thường; họ có cái cốt cách huy hoàng của những bậc siêu nhân, gương mặt họ toát ra một sự bằng an lạ thường, cái bằng an của một đạo viện thâm nghiêm.
Hai vị vẫn đứng yên như hai pho tượng, họ chăm chú nhìn tôi với hai chắp ngang trên ngực, và giữ một sự im lặng hoàn toàn.
Phải chăng tôi đang hoạt động trong một chiều đo thứ tư của không gian, và thức tỉnh để quan sát một cái dĩ vãng nghìn đời? Cái ý thức của tôi về thời gian phải chăng đã thụt lùi trở về thời cát bụi xa xăm của nước cổ Ai Cập? Không, không thể được, vì tôi đang nhận thức rõ ràng hai nhân vật ấy có thể nhìn thấy tôi, thậm chí họ cũng đang sắp sửa nói chuyện với tôi.
Hai vị khuất mặt nghiên mình tới trước, một vị hình như đôi môi mấp máy; gương mặt người kề sát bên gương mặt tôi, đôi mắt người chiếu diệu một tia sáng huyền ảo. Giọng nói của người vang dội bên tai tôi:
- Tại sao ngươi lại đến chốn này và định kêu gọi đến những năng lực huyền bí? Cuộc sống trần gian không đủ làm thỏa mãn ngươi hay sao?
Những lời này đến với tôi không phải bằng sự xúc cảm vật chất của thích giác; vì lẽ không có một rung động âm thanh nào đã xé tan cái im lặng trong gian phòng. Nhưng dường như tôi nghe những lời ấy cũng như một người điếc nghe được ở bên trong lỗ tai của mình. Tiếng nói mà tôi nghe được, người ta có thể ngờ rằng đó là tiếng nói trong nội tâm, bởi vì tuy rõ ràng là tôi nghe thấy bên trong lỗ tai tôi, nhưng nó cũng có thể gây ra cái ấn tượng của một tư tưởng. Nhưng thật ra không phải như vậy. Đó là một tiếng nói thật sự.
Tôi đáp:
- Thưa không!
Vị đạo trưởng nói với tôi:
- Sự náo nhiệt phồn hoa của chốn thị thành đông đúc sẽ chấn an tinh thần cho những kẻ lòng còn run sợ. Đi, người hãy trở về với những thân nhân bạn bè, và ngươi sẽ chóng quên cái điều vọng tưởng vu vơ nó đã đưa ngươi đến đây.
- Tôi không thể.
Người lại nói:
- Con đường ảo vọng sẽ làm cho ngươi mất cả lý trí. Nhiều người đã từng đi lạc vào đó, và trở về thành kẻ loạn óc, điên khùng. Người hãy trở về trong khi còn kịp thời giờ, hãy trở về với con đường dành cho những bước đi của người trần gian.
Nhưng tôi lắc đầu và nói nhỏ như trong hơi thở:
- Tôi phải theo con đường này, đối với tôi không còn con đuờng nào khác.
Vị đạo trưởng lại bước đến gần và lại nghiêng mình về phía chỗ tôi ngồi. Tôi nhìn thấy đó là gương mặt một vị trưởng lão hiện ra trong đêm tối. Trưởng lão nói thì thầm vào tai tôi:
- Kẻ nào tiếp xúc với chúng ta sẽ tuyệt giao với cuộc đời thế tục. Ngươi dám chắc rằng ngươi có đủ sức đi vững bước một mình chăng?
- Thật ra tôi cũng không biết.
Vị trưởng lão lại nói thì thầm:
- Hãy theo ta, rồi khi ngươi đã nhìn thấy, ngươi hãy trả lời cho ta biết.
Kế đó tôi nhìn thấy, như trong một linh ảnh xa xăm, những đường lộ ngoắt ngoéo như mê cung của một thành phố lớn. Cảnh tượng đó hiện ra rất mau chóng, cho đến khi tôi nhận thấy ở phía trước có một ngôi nhà cổ, gần một nơi có rào sắt. Tôi thấy một cầu thang tối om đưa lên một phòng nhỏ hẹp ở phía dưới nóc nhà. Vị đạo trưởng lại đột nhiên xuất hiện tại chỗ ấy, ngồi một bên giường nằm của một ông già khác mà râu tóc rối nùi, với những nét mặt gân guốc phong trần. Ông già này hẳn là đã vượt quá từ lâu về cái độ về chiều của cuộc đời, căn cứ vào nước da màu xám tro và bọc lấy xương của ông ta. Gương mặt hốc hác xương xẩu của ông ta chứng tỏ một sức lực đã tàn, làm cho tôi động lòng trắc ẩn, nhưng khi nhìn kỹ ông ta tôi cảm thấy rợn người vì tôi thấy ông ta đang vật lộn với tử thần, một cuộc vật lộn mà kết quả đã hiển nhiên không còn nghi ngờ gì nữa. Vị đạo trưởng dẫn đường cho tôi nhìn người hấp hối với cái nhìn thương hại. Người dơ tay lên và nói:
- Đợi vài phút nữa thôi, ông bạn hỡi, và ông bạn sẽ được bình an. Đây tôi có đem đến cho ông bạn một người đi tìm những mãnh lực nhiệm mầu. Ông bạn hãy nói với y vài lời, để chia sẽ với y ích nhiều kinh nghiệm.
Đột nhiên tôi trở nên không phải chỉ là một người chứng kiến, mà lại là diễn viên trong cái màn bi kịch lạ lùng này. Với một tiếng thở rất nhọc mệt làm se thắt lòng, người hấp hối quay đầu lại và nhìn thẳng vào mặt tôi. Dẫu cho tôi có đi tận chân trời góc bể tôi cũng không bao giờ quên cái nét kinh hoàng hiện ra trong đôi mắt của y.
- Anh còn trẻ hơn tôi, y nói thì thầm, nhưng tôi đã đi khắp vũ trụ một lần, hai lần, ba lần. Tôi cũng vậy, tôi đi tìm cái mà anh đang tìm. Ồ! Tôi đã tìm kiếm xiết bao!
Y ngừng lại một lúc, đầu y lại rơi xuống gối, y cố gắng nhớ lại việc cũ. Kế đó y ngồi nhỏm dậy, chống đở trên hai khủy tay, rồi đưa ra một cánh tay dài và gầy ốm. Bàn tay y với những ngón tay xương xẩu, giống như tay của một bộ xương người. Y nắm lấy bàn tay tôi siết chặt như một cái kềm. Tôi cảm thấy rằng cái nhìn sâu sắc của y soi vào tận hai mắt tôi và định tìm hiểu linh hồn tôi.
- Đồ điên, y nói lớn, những mãnh lực duy nhất mà tôi tìm thấy chỉ là những mãnh lực của xác thịt và của ác quỷ! Không có mãnh lực nào khác. Anh nghe chưa, không có mãnh lực nào khác nữa!
Sự cố gắng ấy vượt quá sức của y. Y liền rơi xuống gối, và tắt thở. Vị hướng dẫn tôi không nói một lời. Người ngồi yên trong một phút suy tư bên cạnh giường. Khi đó, cái linh ảnh đã tan đi mất. Một lần nữa tôi lại thấy tôi ngồi trong Kim Tự Tháp. Vị đạo trưởng im lặng nhìn tôi, và tôi cũng đáp lại bằng cái nhìn câm lặng. Người đọc được tưởng tôi, nên từ trong bóng tối, vọng đến tai tôi những lời này:
- Được, ngươi đã chọn con đường này. Quyết định của ngươi từ nay sẽ không thay đổi. Vĩnh biệt.
Người liền biến mất. Tôi còn ngồi lại một mình với vị đạo trưởng thứ nhì, vị này từ lúc đầu chỉ đóng vai trò một nhân chứng im lặng. Người bèn bước đến trước chiếc hòm bằng đá. Người có cái gương mặt của một ông lão rất già. Tôi không thể đoán tuổi tác của người đến bao nhiêu.
- Con hỡi, ông lão nói một cách bình tĩnh, những đấng cao cả gìn giữ những quyền năng thần bí đã thu nhận con trong bàn tay của các ngài. Đêm nay con phải được đắt đến phòng thụ huấn. Con hãy nằm ngữa trên tảng đá này. Hồi thời cổ xưa, thì phải nằm trong cái hòm đá kia, có lót những cành và lá cây chỉ thảo.
Đoạn ông lão chỉ cỗ quan tài ở giữa phòng. Tôi không làm gì khác hơn là vâng lời vị đạo trưởng già bí mật. Tôi nằm đặt lưng trên tảng đá. Tôi vẫn chưa biết rõ chuyện gì xảy ra ngay sau khi đó. Tôi cảm thấy như ông lão đã cho tôi uống một liều thuốc mê đặc biệt, có ảnh hưởng rất chậm vì tất cả bắp thịt của tôi đều cứng đơ, kế đó thì một sự tê liệt từ từ xâm chiếm lấy cả tứ chi. Toàn thân tôi trở nên nặng nề và cứng ngắc. Trước hết, hai bàn chân tôi tê lạnh, rồi lần lần đến hai chân và cảm giác tê lạnh cứ đi dần dần từ dưới lên trên. Bây giờ thì cả hai chân tôi đều không còn cảm giác gì nữa.
Dường như tôi sắp bước vào trạng thái nữa mê nửa tỉnh, một cái linh tính bí mật báo cho tôi biết rằng sự chết đã đến gần. Tuy thế, tôi vẫn không nao núng, vì từ lâu tôi đã vượt khỏi sự chết cố hữu của người đời và tôi chấp nhận điều không thể tránh được với một tinh thần triết lý.
Cảm giác lạnh đã lên đến ngực, phần dưới thân hình tôi đã hoàn toàn tê liệt. Khi đó, tôi có một cái gì như là nhói vào quả tim, nhưng cái cảm giác đó qua mau và tôi hiểu rằng cơn khủng hoảng cuối cùng sẽ không còn lâu nữa. Nếu tôi có thể nới rộng hai quai hàm đã cứng thì tôi đã bật cười về cái tư tưởng đầu tiên đến với tôi lúc ấy. Cái tư tưởng đó là: “Ngày mai, người ta sẽ tìm thấy xác chết của tôi trong Kim Tự Tháp, và thế là hết.” Tôi biết chắc rằng tất cả những cảm giác của tôi đều do cái nguyên nhân là sự chuyển tiếp của linh hồn tôi giữa cuộc đời thế tục và cõi giới bên kia nấm mồ.
Tuy tôi biết rõ ràng tôi đang trải qua những cảm giác của một kẻ đang hấp hối, nhưng tôi không có một sự phản ứng nào không thể chống cự lại. Sau cùng, tất cả ý thức của tôi đã tập trung lên đầu, một sự quay cuồng điên loạn cuối cùng diễn ra trong khốc óc của tôi. Tôi cảm thấy dường như tôi bị cuốn lôi theo một trận cuồng phong dữ dội và tôi chui qua một cái lỗ nhỏ hẹp. Rồi trong một lúc, tôi hoảng sợ như sắp bị ném vào khoảng không gian vô tận, tôi lao mình vào khoảng không… , và tôi liền được giải thoát!
Không một ngôn ngữ nào có thể diễn tả những nỗi sung sướng của sự giải thoát mà tôi vừa trải qua. Tôi đã biến thành một vật tâm linh, một vật cấu tạo bằng tư tưởng và tình cảm, không còn bị trói buộc bởi những chướng ngại của cái ngục tù nó vẫn giam hãm tôi, tức là cái thể xác nặng nề bằng xương thịt này. Thoát ly ra khỏi cái gánh nặng của thể xác. Tôi đã trở nên giống như một vong linh, như một người chết vừa chui ra khỏi mồ, nhưng tuyệt nhiên không hề mất đi cái ý thức của mình. Thật ra, ý thức về sự sống của tôi lại còn đậm đà nồng nhiệt hơn trước. Trên hết mọi sự, việc thoát lên một cõi giới thanh cao hơn đem cho tôi cái cảm giác tự do, một sự tự do sung sướng, tốt lành của cõi giới thuộc về chiều đo thứ tư nó dung nạp lấy tôi.
Trước tiên, tôi thấy tôi còn nằm ngửa trên lưng, giống như cái thể xác mà tôi vừa rời bỏ, và lơ lửng trên cái sàn gạch đá. Kế đó tôi cảm thấy như có một bàn tay đẩy nhẹ tôi tới trước và đở tôi đứng dậy trên hai chân. Sau cùng, tôi cảm thấy như vừa đứng, lại vừa lơ lửng trên không.
Từ trên không gian, tôi ngắm nhìn cái thể xác bằng xương thịt mà tôi vừa rời bỏ, đang nằm yên, bất động trên tảng đá. Gương mặt không cảm xúc, lật ngửa lên trần nhà, đôi mắt hé mở, tuy nhiên hai con ngươi không còn đủ sáng để chỉ rằng hai mí mắt không đóng chặt. Hai tay chắp trước ngực, cử chỉ mà tôi không nhớ đã làm trước khi đó. Hai là ai đó đã chấp hai tay của tôi lại mà tôi không hay? Hai chân duỗi thẳng dọc theo nhau từ đầu đến cuối. Đó là cái thể xác nằm ngửa của tôi, dường như đã chết, mà tôi vừa thoát ra khỏi và bỏ lại đó.
Tôi nhận thấy rằng một tia ánh sáng yếu ớt và trắng như bạc từ mình tôi, cái tôi mới, phóng xuống cái thể xác đang nằm yên bất động trên tảng đá. Đó là một điều lạ, nhưng lạ hơn nữa là tôi thấy cái sợi nhau rún vô hình bí mật đó chiếu sáng cả một gốc phòng Vương Cung mà tôi đang lơ lửng trên không, và soi lên những viên đá trên tường như một ánh trăng sáng diệu.
Tôi chỉ còn là một bóng ma, một vong linh không thể xác đang vẫn vơ trong không gian. Tôi đã hiểu tại sao các nhà hiền triết cổ Ai Cập dùng con chim làm biểu tượng của linh hồn trong những chữ ám tự cổ xưa. Với cảm giác bay lơ lửng trên không chẳng khác nào như tôi có mọc hai cánh và bay lướt trên cái thể xác đã bỏ rơi, giống như con chim bay lượn trên một vật gì ở dưới đất, cái biểu tượng đó thật là khéo lựa chọn.
Vậy là tôi đang ở trong không gian, tôi đã tách rời linh hồn tôi ra khỏi cái xác phàm, tôi đã tự phân thân tôi ra làm thành hai phần khác nhau, tôi đã rời bỏ cõi thế gian mà tôi vẫn ở bấy lâu nay. Tôi có cảm giác như trở nên một vật tinh anh như dĩ thái, thanh nhẹ vô cùng, trong một cái thể mới, tức cái thể vía, mà tôi khoát lấy kể từ nay. Nhìn tảng đá lạnh trên đó cái thể xác tôi đang nằm, tôi có một ý nghĩ giản dị nó biểu lộ ra một caùch thầm lặng bằng những lời này:
- Đó là trạng thái của sự chết. Bây giờ tôi biết rằng tôi là một linh hồn, và tôi có thể sống ngoài xác thân. Tôi sẽ tin như vậy luôn luôn, vì tôi đã trải qua kinh nghiệm đó.
Cái tư tưởng đó bám chặt lấy tôi một cách ráo riết như một gong kềm, trong khi tôi vẫn lơ lửng phất phơ trên cái thể xác trống rỗng. Tôi đã kinh nghiệm sự tồn tại của linh hồn bằng phương pháp hiệu quả nhất: Bằng cách di chuyển thật sự ra khỏi thể xác, rồi thấy rằng mình vẫn còn sống! Tôi tiếp tục nhìn cái xác phàm còn bỏ xót lại. Phải chăng là nó mà trong bao nhiêu năm tôi vẫn gọi là cái tôi? Một đống nhục thể, vôtri giác, có thế thôi. Đó là điều mà bấy giờ tôi mới khán phá, với bằng chứng rõ ràng. Nhìn vào đôi mắt mù tịch không còn thấy gì nữa, không còn đáp ứng với ngoại cảnh, tôi mới nhận thấy rõ tất cả sự mỉa mai của vấn đề. Cái thể xác vật chất của tôi vẫn giam hãm lấy tôi, cái tôi thật, nhưng bây giờ tôi đã thật được tự do. Trước kia, tôi vẫn được trở đi lại đó đây trên hành tinh này, bằng một cái cơ thể mà từ lâu nay tôi vẫn lầm lẫn với cái tôi thật.
Dường như cái ý thức về luật hấp dẫn đã biến mất, tôi vẫn phất phơ trên không trung và cảm thấy vừa như treo lơ lửng lại vừa như đứng một cách lạ lùng. Bỗng nhiên xuất hiện bên cạnh tôi vị đạo trưởng già đạo mạo, cốt cách thanh kỳ. Đôi mắt nhìn lên, gương mặt trầm tĩnh, phong độ ung dung, người cầu nguyện:
- Ô Amen, Ô Amen ở trên trời, hãy nhìn về cái thể xác đứa con ngài và ban cho y ân huệ trong cõi giới tâm linh.
Kế đó người nói với tôi:
- Bây giờ con đã học xong bài học lớn. Con người, mà linh hồn sinh ra từ đấng bất diệt, không thể nào chết mất đi đâu. Con hãy ghi nhận cái chân lý đó bằng ngôn ngữ của trần gian.
Ngay lúc đó, trước mặt tôi lần lượt xuất hiện gương mặt khá quen thuộc của một thiếu phụ đã quá vãng mà tôi đã đi đám tang trên hai mươi năm về trước, rồi đến những nét mặt quen thuộc của một người bạn chí thân mà tôi đã đưa đến chỗ yên nghĩ cuối cùng cách đây hai mươi năm, sau cùng là nụ cười hồn nhiên của một đứa trẻ mà tôi đã biết chết trong một tai nạn. Cả ba người điều nhìn tôi trong sự trầm lặng, giọng nói thân mật của họ đã thốt ra chung quanh tôi. Tôi nói ít lời vắn tắt với mỗi người ấy, rồi họ lui gót rồi biến mất. Vị đạo trường già nói:
- Họ cũng sống như con đây, như cái Kim Tự Tháp này đã từng chứng kiến cái chết của nữa phần nhân loại và nó vẫn còn tồn tại. Con hỡi, con nên biết rằng trong ngọn tháp cổ này còn ấn tàng cái di sản đã mất của những giống người đầu tiên và sự liên minh mà họ đã ký kết với đấng tạo hóa, do sự trung gian của vị tiên tri đầu tiên. Nhưng người được chọn lựa ngày xưa đã được đưa đến đây để trình bày cho thấy cái liên minh đó và để khi họ trở về nhà, họ có thể duy trì sự bí mật đó mãi mãi trong dân gian. Con hãy ghi nhớ lời cảnh cáo này: “Khi nào con người từ bỏ đấng Hóa Công và nuôi sự thù hằn với kẻ đồng loại, thì họ phải chịu cái số phận của những vị quốc vương châu Atlantide ở vào thời đại xây cất cái Kim Tự Tháp này. Họ sẽ bị diệt vong bởi chính lòng tà ác của họ cũng như dân Atlantide ngày xưa vậy.”
Không phải đấng tạo hóa đã nhận chìm châu Atlantide mà chính sự ích kỷ, bạo tàn và mù quán tâm linh của những dân tộc sống trên vùng lục địa vô phước ấy. Đấng tạo hóa yêu thương tất cả nhân loại, nhưng sự sống còn của con người bị cau quản bởi những định luật huyền bí mà Ngài đặt ra cho họ. Vậy con hãy ghi nhớ những lời cảnh cáo này.
Khi ấy, tôi bị xâm chiếm bởi một sự ước muốn mãnh liệt là muốn biết thêm sự liên minh bí mật ấy. Chắc hẳn vị đạo trưởng đã đọc được tư tưởng của tôi, vì người liền nói nhanh:
- Mọi sự phải đến vào đúng ngày giờ của nó. Chưa phải lúc, con ạ, chưa phải lúc.
Tôi cảm thấy một sự thất vọng chua cay. Người nhìn tôi trong vài giây đồng hồ rồi nói tiếp:
- Chưa có một người nào thuộc chủng tộc của con được phép biết điều ấy. Nhưng vì con đã giỏi về các khoa này, vì con đã đến với chúng ta với cả tấm lòng thiện chí và hiểu biết, con có thể được vài sự hài lòng. Bây giờ, con hãy theo ta.
Khi đó xảy ra một chuyện lạ kỳ. Dường như tôi đã lọt vào một cơn mê, trong một lúc tôi đã mất cả ý thức về ngoại cảnh và kế đó tôi đã được đưa đến một chỗ khác. Tôi thấy tôi đanng ở một dãy hành lang dài, có chiếu một thứ ánh sáng êm dịu, tuy tôi không thấy có cửa sổ hay đèn đuốc chi cả.
Tôi nghĩ rằng cái nguồn phát ra ánh sáng này không gì khác hơn là cái hào quang bao bọc chung quanh mình vị đạo trưởng già đồng hành với tôi, pha lẫn với sự chiếu sáng với sợi dây từ điển rung động trong dĩ thái ở phía sau lưng tôi. Nhưng tôi phải nhìn nhận rằng sự giải thích nầy vẫn chưa đủ. Các vách tường điều bằng đá ửng màu đất nung, và các phiến đá được ráp nối một cách vô cùng tinh vi. Đất nghiêng theo đường dọc lài lài xuống, theo một gốc tương đương với dốc lài từ cửa vào Kim Tự Tháp. Gian phòng vuông vức và thấp, nhưng không gây trở ngại. Tôi không thể khám phá ra nguồn gốc của cái ánh sáng bí mật ấy, phía trong gian phòng cũng chiếu sáng không kém, dường như có một ngọn đèn soi sáng khắp phòng. Vị đạo trưởng già mời tôi đi theo con đường dốc. Người căn dặn:
- Đừng quay đầu lại nhìn phía sau.
Chúng tôi vẫn đi như thế trên một quãng đường dốc, kế đó tôi thấy một gian phòng lớn, giống như một nơi thánh điện, ở tận chỗ cuối đường. Tôi đang biết rõ là tôi đang ở phía trong hay ở phía dưới hầm Kim Tự Tháp, nhưng trước đó tôi không hề thấy con đường dốc và gian phòng này. Lẽ tất nhiên con đường dốc và gian phòng này điều bí mật cho đến khi nó vẫn chưa hề bị khám phá. Tôi không khỏi cảm thấy kinh sợ, do sự phát hiện đột nhiên này, trong khi một sự tò mò mãnh liệt cũng không kém khiến tôi tự hỏi đâu là chỗ cửa vào con đường hầm bí mật này và cửa đó ra sao. Sau cùng tôi day đầu lại và liếc nhìn ra phía sau để hy vọng tìm thấy cái cửa bí mật. Tôi lọt vào con đường dốc này mà không do một ngã nào, nhưng giờ phía cuối đường hầm tôi nhận thấy rằng hầu như chỗ cửa vào đã bị đóng chặt bởi những tảng đá vuông lớn và trét bằng một chất nhựa giống như xi măng. Tôi xem xét một vách tường đá trắng, kế đó tôi cảm thấy như bị xô té bởi sức mạnh vô hình không cưỡng lại được, cho đến khi tất cả cảnh tượng ấy biến mất dạng và tiếp tục bay lơ lửng trên không gian. Tôi còn nghe cái âm hưởng vọng lại từ xa như một tiếng vang “Chưa phải lúc… chưa phải lúc… ” và trong giây phúc tôi đã nhìn thấy cái thể xác vô tri bất động của tôi nằm trên tảng đá. Vị đạo trưởng già nói nhỏ với tôi.
- Con hỡi! Con có tìm thấy cái cửa bí mật hay không, điều ấy cũng không quan hệ gì. Con hãy tìm trong nội tâm con đường huyền bí nó đưa con đến nơi thánh điện ẩn dấu trong chỗ thầm kín của linh hồn, rồi con sẽ tìm thấy cái kho tàng bí mật. Sự bí mật của Kim Tự Tháp chính là sự bí ẩn trong người của con vậy. Những thánh điện thâm nghiêm, những di tích chứng minh của thời cổ, tất cả đều có chứa bên trong linh hồn của con. Bài học của Kim Tự Tháp chính là đây: Con người phải quay về nội tâm, thám hiểm tận chỗ trung tâm huyền bí của bản chất mình để tìm thấy chân ngã, cũng như người ta phải thám hiểm tận chỗ thâm sâu ẩn dấu của ngọn tháp này để khám phá ra điều bí mật tối trong của nó. Thôi, ta vĩnh biệt con từ đây.
Còn tiếp …
Nơi đây, chúng ta có thể viết bài về những nhà Ngoại cảm và Tâm linh, trao đổi kinh nghiệm, làm quen và nhờ trợ giúp từ những nhà Ngoại cảm và Tâm linh đó. Những nhà Ngoại cảm và Tâm linh luôn có một thời gian biểu dày đặc và rất ít người có khả năng vi tính. Chính vì vậy, dienbatn xin tình nguyện làm chiếc cầu nối giữa các nhà Ngoại cảm và Tâm linh với mọi người. Các bạn có thể liên hệ với họ qua địa chỉ của dienbatn. Email: dienbatn@yahoo.com, Tel: 0904392219.
Hy vọng sẽ làm được một vài việc gì đó có ý nghĩa cho các bạn .
Thân ái. dienbatn. BÙI QUỐC HÙNG.
Để có thể phần nào giúp các bạn đỡ mất công tìm kiếm thông tin trong ước vọng tìm mộ người thân , người viết xin mạo muội cung cấp một số địa chỉ những NHÀ NGOẠI CẢM có tài nhất mà người viết được biết hy vọng các bạn có Duyên được gặp và được giúp đỡ. Người viết cũng thành thực xin lỗi những NHÀ NGOẠI CẢM vì vô tình trút thêm gánh nặng áp lực công việc vốn đã quá tải với họ .
1/ Thiếu tướng – Tiến sĩ NGUYỄN CHU PHÁC – Địa chỉ : 38B – PHỐ LÝ NAM ĐẾ – TP . HÀ NỘI .
2/ NHÀ NGOẠI CẢM PHAN THỊ BÍCH HẰNG : Phòng 211 – KHU B19 TẬP THỂ KIM LIÊN – HÀ NỘI . Số điện thoại của cô Phan Thi Bích Hằng : 0904123404 và 048528119 .
3/ NHÀ NGOẠI CẢM NGUYỄN KHẮC BẢY – Quê tại Huyện Gia Lương – TỈNH BẮC NINH . Địa chỉ : PHÒNG 212 – NHÀ B19 TẬP THỂ KIM LIÊN – HÀ NỘI .
4/ NHÀ NGOẠI CẢM NGUYỄN THỊ PHƯƠNG : Địa chỉ – Ngay đầu phía Nam cầu HOÀNG LONG – THANH HÓA . Nhà cô Phương có một nhà nghỉ và quán ăn ngay đầu cầu phía Thanh hóa . Các bạn cứ tới là tìm thấy .
5/ Cô NGUYỄN THỊ NGUYỆN – Tel : 04.5763282 .
6/ NHÀ NGOẠI CẢM NGUYỄN QUANG PHÚ : Tel : 04.5658307 – 0913349444 .
6/ ĐỖ BÁ HIỆP – Địa chỉ 22 Thịnh yên – Hà nội . Tel : 0904375668 .
7/ NNC TRẦN QUANG BÍCH – Số 2 Dã Tượng . Tel 04.8220186 .
8/ NNC DƯƠNG MẠNH HÙNG – 35 LÃN ÔNG – HÀ NỘI . Tel : 04.8287245 .
9/ ĐỖ HOÀNG VẠN THÔNG – Tức anh Tứ – Xã Tam xuân – Huyện Núi thành – Tỉnh Quảng Nam . Tel : 0510581101 – 0902424428 .
Ngoài ra còn một số NHÀ NGOẠI CẢM khác rất giỏi mà người viết chỉ biết tên , không biết địa chỉ , bạn nào biết xin bổ xung giúp .
Đó là những NHÀ NGOẠI CẢM : THẨM THÚY HOÀN , , NGUYỄN VĂN NHÃ , PHAN HUY LẬP . NGUYỄN VĂN LIÊN , TÔ XUÂN ĐẠO , Cô Năm NGHĨA ở SÔNG BÉ , Cô Út ở HÓC MÔN ….
Ông Nguyễn Phúc Giác Hải là người trực tiếp tham gia ngay từ đầu cuộc tìm kiếm cực kỳ kỳ lạ và huyền bí này. May mắn, hơn tất cả những gì diễn ra trong cái đêm đáng nhớ ấy đều đã được ghi vào chiếc máy quay phim nhỏ mà ông luôn mang theo người. Dưới đây là câu chuyện ông kể lại. Cuối năm 2004, chúng tôi được nhà ngoại cảm N.T.K báo rằng bà nhận được một nguồn tin từ một lực lượng siêu tự nhiên, cho biết hiện nay đã có một người tìm được vật cổ vô giá (một vật tròn dẹt như đồng tiền và một vật hình tròn). Nếu để vật báu đó lọt ra nước ngoài thì sẽ xảy ra nhiều rắc rối. 21h, nhóm tôi có GS. Viện sĩ Đào Vọng Đúc – Giám đốc trung tâm Nghiên cứu tiềm năng con người. bà Tuyết Mai – Phó Giám đốc vlà bà N.T.K lên một chiếc xe con trong đêm tối. Không ai biết nơi đến sẽ là đâu vì chính bà N.T.K cũng không biết. Chiếc xe đi theo sự dò tìm đưòng tùng đoạn một của nhà nữ ngoại cảm. Bà N.T.K cho biết. thông tin siêu nhiên trên nói rằng người đào được báu vật ấy hiện giờ ở một thị trấn cách ra Hà Nội l50km. Đến thị trấn đó, chiếc xe đi lòng vòng theo sự chỉ dẫn của nhà ngoại cảm như ra đa đang dò sóng. Đến một ngôi nhà bà N.T.K nói: “Tôi thấy đau quặn bụng chắc là đây rồi. Chúng tôi xuống xe. Lúc ấy đã gần một giờ sáng lấy cớ gì mà gõ cửa nhà người ta? Nhà ngoại cảm và bà Tuyết Mai đành phải giả vờ đau bụng xin vệ sinh nhờ. Sau khi ờ tù nhà vệ sinh ra, nhà ngoại cảm ra ghế ngồi và bắt đầu nói chuyện với vợ chồng chủ nhà. Không thế nói trắng ra mục đích cuộc kiếm tìm trong đêm, bà N.T.K phải nói chuyện vòng.vo. Thấy rõ biểu hiện sốt ruột và nghi ngại của chủ nhà, tôi đành phải nói tôi là người của chưong trình “Chuyện lạ Việt Nam”. Chúng tôi nhận được thông tin có người tìm được đồng tiền cổ. Nhận thấy đây là hiện tượng lạ nên chúng tôi muôn mua lại hoặc ghi hình. Không hiểu gia đình mình có biết chuyện này không?”. Sốt ruột vì cách nói đi vòng của tôi, bà N.T.K thăng thắn: “Tôi nói luôn cho các vị biết. tôi là một người làm vê tâm linh. Tôi đã nhìn thấy ông bà đào được cổ vật rồi. Xin ông bà kể cho. Chủ nhà hơi ngỡ ngàng, nhưng phủ nhận ngay: “Không, chúng tôi không có gì cả, bây giờ đã là 2 giò sáng rồi. Chúng tôi xin phép đi nghỉ để mai còn làm việc. Xin mời các vị ra khỏi nhà”. Tôi, ông Đúc, bà Mai không có cách nào khác là phái đúng dậy ra ngoài, nhưng N.T.K thì nhất quyết không ra. N.T.K nói nhỏ với chúng tôi rằng bà đã nhìn bằng thấu thị. thấp cổ vật ớ trên gác, rồi bà lật bài ngửa với chủ nhà: “Bây giờ tôi nói cha anh biết nhé. Gia đình anh vùa theo đạo vùa theo đời, vừa thờ Phật lại vừa có tượng Chúa, đúng không?” Bà tiếp tục nói vanh vách nhiều chi tiết về gia đình họ. gặp hạn khi nào, con cái ra sao, rồi chốt lại: “Không phải anh đào được cổ vật ở đây mà ở quê của anh cách đây khoảng hơn 20 cây số. Chỗ anh tìm được có nhũng cây cọ và chuồng trâu bò rồi bà N.T.K tả thêm một số đặc điểm khác về địa hình nơi đó. Chủ nhà ngồi nghe, mặt biến sắc, toát mồ hôi. Ngưòi chồng run run nói: “Cái này tôi không biết, có thê vợ lôi biết chăng, để tôi hỏi vợ tôi xem”. Sau ít phút hội ý. Người vợ đi ra cùng chồng. Bà vợ nhận ngay ra tôi là người hay xuất hiện trên truyền hình, nên tỏ thái độ tin tưỏng và họp tác. Nhà ngoại cảm nói tiếp: “Tôi biết bà cất vật tròn tròn ấy ở trong một cái lọ và tôi ngủi thấy có mùi rưọu”. Thấy chủ nhà vẫn hơi lưõng lự, tôi nói: “Chúng tôi là những ngưòi yêu khoạ học nhũng gì anh chị tìm được vẫn là của anh chị thôi”. Bà chủ nhà gật đầu: “Tôi biết anh nên rất tin. mời mọi ngưòi vào phòng trong. Chủ nhà lên gác’ lấy xuống một chiếc hộp sắt, trong đó có một cái lọ vốn đựng rượu nếp, nên mở ra có mùi thơm đúng như lời nhà ngoại cảm nói khi trưóc. Trong hộp có một chiếc khăn gói một đồng tiền to bằng chiếc đĩa con, bán kính khoảng 12cm và cái vòng ngọc. Rồi chủ nhà moi từ cái lọ trong có vật tròn tròn to bằng quả trứng và một viên ngọc lớn. Đồng tiền có chữ Minh Mệnh Thông bào, nhung lại to hơn đồng tiền bình thưòng rất nhiều. Về sau chúng tôi mới dự đoán đó là đồng tiền được đúc riêng để thưởng cho vị quan có công trạng đặc biệt có ý nghĩa như một tấm huân chương. Ngay cả nhà khảo cổ và nghiên cú’u tiền cổ Đỗ Văn Ninh cũng chưa biết đến sự tồn tại của đồng tiền này. Còn viên ngọc, khi giơ ra trước ánh sáng thì thấy nửa trong nửa đục, phần thì trong suốt như pha lê, phần có nhũng gân màu rất đẹp. Bà N.T.K hỏi: “Ai là người báo tin, để anh chị đào vật báu. Thực ra. tôi đã biết họ là ai, tôi chỉ hỏi để kiểm tra thôi”.(Xin nói thêm là ngay trưóc khi lên đường tìm ngưòi đào cố vật, bà N.T.K đã có buổi làm việc vói một số người có trách nhiệm và một sô nhà khoa học, để thông báo về tên của nhũng ngưòi đã “báo mộng” cho bà về việc cổ vật vừa được đào thấy. Buổi làm việc này đã được 1ập biên bản hắn hoi.) Vợ chồng chủ nhà cho biết có 3 người báo mộng, chông nhớ được 2 tên, vợ nhớ thêm được 1 tên. Kỳ lạ là nhũng tên này đều k.hớp với nhũng trong cuộc họp mấy ngày trước. Nhà ngoại cảm cho biết nơi chủ nhà đã đào, còn có một đồng tiền nũa như thế nhung một mặt có 8 chữ và một mặt 4 chữ (đồng tiền đã tìm thấy chỉ có một mặt 4 chũ). Thế là cuộc “săn lùng” huyền bí lúc nủa đêm đã kết thúc đúng lúc đồng hồ điểm 3 giờ sáng và băng ghi hình vùa vặn hết. Sau này nhiều ngưòi nói với tôi: Anh đã có một cuộn băng vô giá mà không ai có đưọc. Khoảng một tháng sau, chúng tôi lại tiếp tục về quê của ngưòi đã đào đưọc báu vật và sau mấy lần đào bới. Bà N.T.K đã chỉ đúng vị trí của đồng tiền cổ thú hai mà bà đã thông báo trong buồi tối đi săn lùng đó. Chúng tôi đã báo cáo toàn bộ việc này với Liên hiệp các hội Khoa học và kỹ thuật Việt Nam. với GS.VS Vũ Tuyên Hoàng – chủ tịch, phó Chtỉ lịch kiêm Tống thư ký Hồ Uy Liêm, GĐ của Tạp chí Điện tủ và Nhà XB Tri thức – TS. Chu Hảo. Chúng lôi cũng đã kiến nghị để Nhà nước mua lại cổ vật đó nhưng không biết kết quả ra sao. Chúng tôi cũng đã khuyên ngừời tìm được cổ vật không được bán chúng bởi chúng có giá trị vật chât và tâm linh rất lớn. Quả thật mấy lần người đào đưọc cổ vật, đi hỏi giá định bán thì kông hiểu sao liền bị tai nạn hoặc ốm đau. Bản thân tôi đã trực tiếp kiểm nghiệm khả năng tiên tri của một nhà ngoại cảm. Năm 1990, con trai tôi vốn đã sang Đức công tác nay muốn đưa cả vợ và con sang Tây Đức qua thư mời của phía Đức. Khi nộp thủ tục cho ĐSQ Tây Đức thì họ nói sẽ trả lời trong thời gian từ 30 – 90 ngày Tôi tìm đến một nhà ngoại cảm ông này nói: Tôi nhìn thấy hồ sơ của con dâu anh đã được duyệt. Tôi “nhìn” thấy trong tủ đựng hồ sơ ấy lóe sáng. Đúng như lời tiên báo, ba ngày sau con dâu tôi nhận được giấy báo đến làm thủ tục lấy hộ chiếu. Tuy nhiên, lúc ấy lại có một rắc rối khá lớn về vé máy bay. Tôi lại tìm đến nhà ngoại cảm và hỏi con dâu tôi có đi được không, thì đuợc trả lòi: “Tôi chưa nghe thấy tiếng máy bay. Một lúc sau ông lại nói: “Tôi đã nghe thấy tiếng máy bay, đi được nhưng có trục trặc. Tôi nhìn thấy con đâu anh dắt một đứa bé ra máy bay”. Nghe nói vậy tôi giật mình, con dâu tôi có hai đứa con, tại sao lại chỉ có một đứa đi với mẹ? Tôi hỏi lại thì vẫn nhận được câu khẳng định đúng như vậy của nhà ngọai cảm. Đến ngày bay, bộ phận an ninh của sân bay nói có một vé không hợp lệ. Tôi phải đích thân cầm hộ chiếu của con dâu vào nhờ một người bạn ở sân bay can thiệp và mọi việc êm xuôi.Ngưòi bạn kia còn tự tay bế đứa con thú hai của con dâu tôi (còn bé) đi lên máy bay để đưa cháu vào phòng hạng thương gia vì chỉ ở đó mới có chỗ cho cháu nằm. Thế là đúng như nhà ngoại cảm “nhìn” thấy trước con gái tôi dắt tay một đứa con lên máy bay.
Ngày 21/9/2002, Báo Kinh Tế và Xã Hội đã đăng một bài về sự phát hiện trên sông Tô lịch, phía cửa Tây của La Thành, một hiện tượng chấn yểm của người xưa.
Hiện tượng này đã gây xôn xao dư luận của Hà Nội và cả nước về những kỳ bí đang xẩy ra vào đầu thế kỷ 21 – Khi mà KHKT đang phát triển như vũ bão.
Tóm lược sự việc như sau: Vào ngày 27/9/2001, đội thi công số 12 -Thuộc Công ty xây dựng VIC, trong khi nạo vét sông Tô Lịch, thuộc địa phận làng An Phú – Phường Nghĩa Đô – Quận Cầu giấy – HÀ NỘI đã phát hiện được di vật cổ rất lạ và huyền bí. Đó là 7 cây gỗ được chôn đứng dưới lòng sông, tạo thành một đa giác đều, tại đó có các bộ hài cốt bị đóng đinh bả vai, táng giữa các cọc gỗ đó. Ngoài ra còn phát hiện được tấm gỗ Vàng tâm có hình Bát quái, một số đồ Gốm, xương Voi, Ngựa, dao, tiền đồng.
Sau khi đã rút những cọc gỗ đó lên, lấy các bộ hài cốt đem lên Bát Bạt -Hà tây (là nơi nghĩa trang chôn cất chung của TP. Hà nội ), thấy có rất nhiều hiện tượng kỳ lạ xẩy ra. Nào là các việc chuẩn bị tiến hành thi công bị rối tung lên, máy xúc KOMATSU tự nhiên lao xuống sông. Nào là một số người đang làm việc tự nhiên ngã lăn ra đất, chân tay co rúm, cứng đờ, lưỡi thè ra ngoài và trở nên hoàn toàn mất tư thức trong nhiều giờ. Địa tầng của cả khu vực thi công tự nhiên biến đổi, không giống như khảo sát ban đầu; Thử đưa la bàn vào khu vực đó thấy kim la bàn quay tít.
Một năm sau sự việc trên, có hàng loạt sự kiên ngẫu nhiên xẩy ra, gây kinh hoàng cho toàn đội xây dựng số 12, là đội đă trực tiếp thi công khu vực trên. Bản thân, gia đình, anh em của những người công nhân trực tiếp ngụp lặn vớt hài cốt, nhổ cọc đóng dưới lòng sông liên tục bị các tai nạn thảm khốc như chết, bệnh tật, tai nạn. Sự việc lên đến đỉnh cao khi có tới 43 người thợ bỏ không dám tiếp tục làm việc tại công trường nữa. Trong số đó nhiều người không nói rõ lý do, cũng không đòi hỏi vật chất mà đáng ra họ được hưởng.
Ngày 9/10/2001, những người thợ đã mời một thày theo đạo Tứ phủ đến giải thich, theo nhận định của Thày thì đây là một đạo Bùa Bát quái trận đồ được chôn yểm lâu đời để chấn yểm Long mạch của khu vực này. Sau đó các công nhân lại tiếp tục mời Thượng tọa Thích Viên Thành tới. Thượng tọa Thích Viên Thành đã cho 5 đệ tử lập đàn tràng, làm lễ Hàn lại Long mạch. Theo một số người nói lại (tôi không có điều kiện kiểm tra). Chỉ hơn 1 tháng sau, Thượng tọa Thích Viên Thành đã bị bệnh chết.
Các nhà khoa học đã có những đánh giá sơ bộ, song cho đến nay vẫn chưa có kết luận nào khả dĩ có thể lý giải và khắc phục các sự việc trên.
Giáo sư Trần Quốc Vượng có kết luận như sau: “Trước đây, cổng Hoàng thành ngoài lính còn có Thần chấn giữ 4 cửa (Thăng Long Tứ trấn) và có yểm bùa hay còn làm lễ Hiến Sinh. Như vậy đây là cổng thành phía Tây của La thành. Thông qua tính tương đối thống nhất giữa niên đại của Tiền và đa số đồ gốm cho thấy niên đại của địa điểm này trong khoảng thế kỷ 11 cho đến 14, thuộc vào thời Lý -Trần Việt Nam hay thời Tống của Trung Quốc.
Sự trùng hợp ngẫu nhiên giữa hiện tượng sông Tô bị lở do đổi dòng và mắt nhà Vua bị đau, đã tạo ra một lễ trấn yểm, trong đó có những bộ xương người cùng những hiện vật khác chăng. (Ở đây GS Trần Quốc Vượng muốn nhắc đến sự tích Ông Dầu bà Dầu trong chuyện cổ tích Việt nam – Người viết). Đó là một phần của những gì đã đăng tải trên tờ báo. Gần đây, một người bạn của tác giả có cho biết: Đài truyền hình có phát tin người ta đã chuẩn bị khôi phục lại hiên trạng di vật như lúc ban đầu.
Người viết bài này lại có ý kiến khác hẳn: Theo thiển ý của người viết, đây là một hiện tượng chấn yểm nhằm cắt và bế Long Mạch, chận đường của Khí. Ai đã chấn yểm vị trí này và mục đích sự chấn yểm này để làm gì?. Theo thiển ý của người viết: Đây là tác phẩm của Cao Biền, Tiết độ sứ của TQ vào thế kỷ 8 -Tức là trước thời nhà Lý khoảng 200 năm.
Người viết xin được chứng minh như sau: Trước hết nói về ý kiến của GS Trần Quốc Vượng; người viết cũng đồng ý rằng đây là một sự chấn yểm sông Tô lịch, song không chỉ căn cứ vào niên đại của một số đồ gốm nhặt được mà cho rằng sự việc xẩy ra vào thời Lý – Trần. Nếu theo Truyền thuyết “Tại sao sông Tô lịch và sông Thiên Phù hẹp lại” hay truyền thuyết “sự tích Ông Dầu bà Dầu”, tác giả của sự việc trên là các vị Vua nhà Lý, nhằm trấn yểm sự Báo thù của Ông bà Dầu, thì không có sự việc sông Tô Lịch và Thiên Phù cứ ngày càng hẹp lại, đến nay chỉ còn là một con sông nhỏ xíu, làm nhiệm vụ thải nước bẩn cho Hà Nội. Ta nhớ rằng theo sử sách sông Tô lịch ngày xưa rất rộng, trên bến, dưới thuyền, là trục Giao thông chính thủa ấy. Mặt khác thời Lý Trần có rất nhiều nhà Phong Thủy Việt nam tài giỏi như: Thiền sư Định không làng Cổ pháp (Sư thọ 79 tuổi -Năm Bính tư 808), Sư La chân Nhân (852 -936), Sư Vạn Hạnh..
Dĩ nhiên các vị sư đó không thể nào để cho các Vua Lý chấn yểm sông Tô Lịch và Thiên Phù, để đến nỗi sông Tô Lịch và Thiên Phù cứ ngày càng hẹp lại và Ngôi báu Vua Lý chẳng bao lâu về tay nhà Trần. Dòng họ Lý bị tuyệt diệt đến nỗi chỉ có người nào đổi qua họ Nguyễn mới thoát khỏi.
Bây giờ ta xét sự việc dưới một góc độ khác qua các sự kiện Lịch sử và các truyền thuyết còn lưu lại trong dân gian.
Theo Việt sử lược: Thành Đại La được xây dựng vào thế kỷ 7 có tên là Tống Bình. Năm thứ 2 niên hiệu Trường khánh (Nhâm Dần -822 ), Vua Mục Tông nhà Đường dùng Nguyên Hỷ làm quan đô hộ. Nguyên Hỷ thấy cửa thành có dòng nước ngược sợ rằng dân ở thành có ý đồ phản nghịch, liền sai Thầy bói gieo 1 quẻ. Thầy bói nói rằng: Sức ông không đủ để bồi đắp thành lớn, 50 năm sau, có một người họ Cao đóng đô tại đây mà xây dựng Vương phủ .
Tới đời vua Đường Y Tôn (841 -873), Cao Biền được cử sang đất Việt làm Tiết Độ sứ. Cao Biền là một con người đa hiệu: Vừa là một vị Tướng,vừa là một nhà Phù thủy, một Đạo sĩ, cũng là một nhà Phong thủy có tài. La Thành được Cao Biền sửa chữa, chỉnh đốn lại cho hợp Phong Thủy vào các năm: 866, 867, 868. Theo truyền thuyết, khi Cao Biền xây dựng lại thành Đại La, thì khu vực thi công có hiện tượng sụp lở đất. Cao Biền liền tiến hành chấn yểm Thần sông Tô lịch và một số điểm khác như đền thờ Thần Bạch mã, núi Tản Viên. Sau đó công viêc xây dựng mới có thể hoàn tất.
Tới đây, ta nhớ lại một truyền thuyết khác của dân tộc Việt nam. Đó là “Truyền thuyết Thành Cổ Loa” Tương truyền rằng khi xây dựng thành Cổ loa, An Dương Vương cũng xây mãi mà thành vẫn bị đổ. Khi đó Rùa Thần hiện ra chỉ cách cho xây và cho một cái móng chân, lúc đó thành Cổ loa mới có thể xây dựng xong”.
Về mặt địa lý, La thành và Thành Cổ loa cách nhau không xa (Theo đường chim bay chỉ vài chục km).
Tới đây, ta buộc phải tự đặt câu hỏi: Có sự trùng hợp giữa hiện tượng sụp đất của Thành Cổ loa, sự sụp đất của thành Đại la và sự sụp lở đất không thể khắc phục được trên công trình nạo vét sông Tô Lịch?.
Qua hai truyền thuyết trên, bỏ qua các sự việc có tính chất dị đoan, chúng ta phải chấp nhận một sự thực là: Vùng đất từ đầu nguồn sông Tô Lịch kéo dài đến Cổ Loa – Đông Anh HÀ NỘI là một vùng đất có địa tầng địa chất không ổn định. Ta cũng cần phải nhớ rằng: Núi Tản viên nằm ở hướng Tây Hà Nội. Mặt khác phía Tây và Tây Bắc của La Thành là một vùng núi non trùng điệp của các tỉnh HÒA BÌNH, SƠN LA, LAI CHÂU… Theo định nghĩa của môn Phong Thủy, Long Mạch xuất phát từ những rặng núi cao. Núi mà từ đó khởi nguồn Long mạch gọi là Tổ sơn. Ngoài ra Long mạch còn xuất phát từ những khu vực khác gọi là Thiếu sơn. Ta cũng biết rằng thiên khí từ trên trời luôn có tính chất giáng xuống, các đỉnh núi cao là những antena tiếp thu sinh khí. Từ những sự việc trên, ta cảm nhận được rằng có một Long mạch rất lớn bắt nguồn từ núi Tản Viên và các rặng núi phía Tây, Tây bắc của Thành Đại la kéo dài qua thành Đại La theo dọc sông Tô Lịch (khí thường đi theo nướ), chạy qua khu vực Hồ Tây bây giờ (Hồ Tây trước kia là một khúc của dòng sông Hồng), sau đó sang tới tận địa phận Cổ Loa – Đông Anh – HÀ NỘI và còn theo hướng Đông, Đông Bắc đi tiếp .
Chính vì có Long mạch này mà Cao Biền phải vô cùng bận tâm, khổ trí nhằm tiêu diệt hoặc chấn yểm. Có rất nhiều tryền thuyết về Cao Biền liên quan đến các khu vực khác nhau của Long mạch này. Ta có thể kể ra đây những hoạt động của Cao Biền liên quan đến các khu vực của Long mạch này: Đầu tiên là truyền thuyết Cao Biền chấn yểm núi Tản Viên, hắn đã sử dụng đến 8 vạn cái tháp bằng đất nung để chấn yểm núi Tản viên. Tới gần đây người ta còn đào được những cái Tháp đất nung đó tại khu vực Hà nội. Tiếp theo là truyền thuyết Cao Biền dùng hơn 4 tấn sắt, đồng… chôn để chấn yểm đền Bạch Mã là nơi vị thần sông Tô Lịch trú ngụ. Cao Biền còn nhiều lần dựng đàn tràng, dùng 4 thứ kim loại: sắt, đồng, vàng, bạc chấn yểm nhiều nơi trên bờ sông Tô Lịch. Theo sử sách, Cao Biền đã đặt Bùa chấn yểm tới 19 nơi dọc theo sông Tô Lịch.
Thời bấy giờ nước Nam có nhiều vị đại sư tài ba lỗi lạc, hiểu biết rất giỏi về Nho, Y, Lý số và thuật Phong Thủy đã hóa giải sự trấn yểm của Cao Biền bằng phép Huyền môn. Các đại sư thường tụ tập tại ngôi đền SƠN TINH THỦY TINH ở núi Ba vì, hay ở đền BẠCH MÃ, dùng những hiểu biết về Phong Thủy để chấn áp bùa phép của Cao Biền.
Trở lại, đạo bùa tìm thấy trên lòng sông Tô Lịch, có rất nhiều lý do để có thể kết luận rằng: Đó là tác phẩm của Cao Biền, chứ không phải là của các nhà vua Lý. Tác phẩm đó là của Cao Biền đời nhà Đường, thuộc về thế kỷ 9, tức là trước thời các nhà Lý khoảng 200 năm (Lý thái Tổ -Năm 1010). Nếu xét về niên đại của cổ vật tìm thấy, thì trong khoảng 200 năm các cổ vật trên cũng không có sự thay đổi nhiều. Cũng không loại trừ trường hợp các cổ vật ở trên đất liền rớt xuống lòng sông thời gian sau khi Cao Biền trấn yểm.
Bây giờ ta lại xét đến mục đích của Cao Biền khi trấn yểm sông Tô Lịch. Cho tới tận giờ phút này, khi các bạn và tôi đang ngồi bên máy vi tính,người ta vẫn sử dụng các thủ thuật: Châm cứu, điện chẩn, xoa bóp, bấm huyệt… để chữa bệnh. Tất cả các thủ thuật đó đều dựa trên lý thuyết về hệ thống kinh mạch, huyệt, lạc trong cơ thể con người. Người ta xác định được hàng ngàn vị trí Huyệt đạo trong cơ thể con người. Tùy theo từng trường hợp khi châm cứu, người ta dùng kim tam lăng để châm vào các huyệt khác nhau, với thời gian và độ nông sâu khác nhau. Trong dân gian còn lưu truyền các biện pháp bấm, điểm huyệt có thể làm cho một bộ phận nào đó của cơ thể không còn khả năng cử động, hoặc nặng hơn là bộ phận đó không còn sử dụng được. Ta vẫn biết rằng: THIÊN ĐỊA NHÂN là hợp nhất. Mọi vật thể từ Vi mô cho đến Vĩ mô đều phải tuân theo những quy luật chung của sự tương tác vũ trụ. Phải nói dài dòng như vậy để có thể tạm kết luận rằng, trên Trái đất này cũng phải có những đường kinh mạch, huyệt, lạc như trong cơ thể con người. Trái đất này là một cơ thể sống chứ không phải là một cục đất chết như nhiều người vẫn nghĩ. Ta cũng có thể suy ra một hệ quả rằng: Tại một điểm nào đó, người ta có thể dùng một thủ thuật nào đó, có thể ngăn, bế hoặc chặn đường đi của một Long mạch như Cao Biền đã làm. Thủ thuật này người xưa gọi là trấn yểm.
Bây giờ ta tạm thời đưa ra các nhận định như sau:
1. Đạo Bùa trấn yểm trên dòng sông Tô Lịch là của Cao Biền -Tiết độ sứ của nhà Đường, dùng để chấn yểm long mạch, khi tiến hành xây dựng thành Đại La vào thế kỷ 9. Đó là 1 trong 19 nơi mà Cao Biền đã thực hiện trấn yểm. Đạo Bùa đó hoàn toàn không phải do các Vua thời nhà Lý chấn yểm trong Truyền thuyết Ông Dầu, bà Dầu khoảng 200 năm sau khi Cao Biền thực hiện chấn yểm.
2. Chấp nhận có một Long mạch rất lớn xuất phát từ phía Tây của thành Đại La (Các dãy núi thuộc các tỉnh Hòa Bình, Sơn La, Lai Châu, và gần nhất là dãy núi Tản Viên); Long mạch này đi qua thành Đại La, cụ thể theo dọc sông Tô Lịch, qua khu vực Hồ Tây, kéo dài sang Cổ Loa – Đông Anh – HÀ NỘI; Long mạch này còn kéo dài tới dãy Yên Tử và theo hướng Đông Bắc tới tận Quảng Ninh. Đây chỉ là nhánh Thanh Long của đồng bằng Bắc Bộ. Nhánh Bạch Hổ khi có điều kiện tôi xin chứng minh tiếp.
3. Cao Biền đã thực hiện biện pháp chấn yểm Long mạch, nhằm bế dòng khí của Long mạch này. Thủ thuật trấn yểm tương tự như thuật điểm huyệt trong đông y học.
Đến đây,ta lại tiếp tục đặt ra câu hỏi:
1. Tại sao có hiện tượng kỳ lạ và bí ẩn đã xẩy ra cho các công nhân trong đội xây dựng số 12. Bản chất hiện tượng đó như thế nào?
2. Tại sao sau khi Cao Biền trấn yểm sông Tô Lịch, kể từ đó tới tận ngày hôm nay, trong lịch sử ta không còn nghe có vụ sụt lở đất nào khác ngoại trừ trường hợp trên sông Tô Lịch đã nêu ở trên sau khi người ta đã rút các cọc trấn yểm lên.
3. Hậu quả của việc rút bùa trấn yểm lên sẽ như thế nào đối với khu vực dọc theo sông Tô Lịch nói riêng và cả khu vực HÀ NỘI, các vùng phụ cận nói chung. Hậu quả sẽ như thế nào đối với Long mạch đi qua thành Đại la?
4. Biện pháp khắc phục sự việc trên như thế nào?. Người ta có thể hàn lại Long mạch như Thượng Tọa Thích Viên Thành đã thực hiện hay không?. Trường hợp khôi phục lại Bùa chấn yểm đó xấu hay tốt?.
Người viết bài này xin mạo muội lý giải các câu hỏi trên. Vì tình yêu đối với HÀ NỘI, quê hương của người viết, vì trách nhiệm một người Việt nam đối với quê hương rất mong được cùng các bạn trao đổi, hầu tìm ra những giải pháp khắc phục hiện tượng kể trên. Đó là trách nhiệm chung của chúng ta không chỉ phải của riêng ai.
Người viết xin được lần lượt lý giải các vấn đề trên như sau:
1. Tại sao có hiện tượng kỳ lạ và bí ẩn xảy ra cho các Công nhân trong đội xây dựng số 12 -Bản chất của hiện tượng đó như thế nào ?.
Trong thuật Phong Thủy, Khí là một hiện tượng rất khó giải thích, nhưng nó là một khái niệm cơ bản của thuật Phong Thủy. Nhận định đúng về Khí là chìa khóa mở vào lý thuyết cốt yếu của Phong Thủy. Theo quan niệm Á đông, Khí ẩn tàng làm động lực cho Trời đất vạn vật. Khí không những hội tụ trong các vật thể hữu hình mà còn tản mát vô hình sau khi vật thể tan rã để tạo thành những thể rất Linh thiêng gọi là Linh Khí của Vũ trụ. Người xưa có câu: Tụ là hình tán là Khí. Ngày nay Khoa học phát hiện được một vài dạng của Khí, gọi là Plasma sinh học.các dạng đó có thể đo, đếm được. Trong Đông Y học người ta phát hiện Hệ thống Kinh, Mạch, Huyệt là đường vận hành của Khí từ rất xa xưa. Người ta phát hiện rằng: Khí vận hành trong Kinh, Lạc như một dòng nước, chỗ đi ra gọi là Tĩnh, trôi trảy gọi là Huỳnh, dồn lại gọi là Du, đi qua gọi là Kinh, nhập lại gọi là Hợp. Đường Kinh không đơn giản là một ống dẫn vật chất nào đó. Đường Kinh là một chùm ống dẫn Khí Ngũ hành xuyên suốt các cơ quan, bộ phận của một Tạc tượng. Ngoài ra người xưa còn biết rất sâu về bản chất của Khí, có một lý thuyết về Thời châm vô cùng chính xác là Tí Ngọ lưu trú và Linh Quy bát pháp. Đó là trên cơ thể con người,còn trong Phong Thủy, người ta quan niệm rằng Nguyên Khí trong lòng đất, tương tự như hệ thống mạch, huyệt trong Đông Y. Nguyên Khí được xem là gắn bó với nước, nước giúp Khí di chuyển, nước đi thì Nguyên Khí cũng đi, nước ngừng thì Nguyên khí cũng ngừng. Sinh Khí tụ mạnh nhất là nơi giao hội của nước (nơi các dòng sông hội tụ chẳng hạn). Người viết chỉ nêu ra một số quan niệm về Khí, dùng cho việc chứng minh luận điểm của mình, còn Lý thuyết về Khí thì vô cùng, vô tận. Mặt khác, có thể tìm hiểu cơ chế của mối quan hệ giữa hài cốt người chết đối với người thân thích còn sống như thế nào?. Theo Giáo sư Nguyễn Hoàng Phương: Trước hết vì trong mối quan hệ này không có sự tiếp xúc xác thịt trực tiếp giữa hài cốt người chết và thân xác người còn sống, nên tất yếu phải có phần sóng vô hình của cả đôi bên tham gia vào. Đó có thể là một hiện tượng cộng hưởng sóng mang tính chất huyết thống, dòng họ. Do tần số đôi bên có thể khác nhau nhiều, nên trong lý thuyết về Nhạc, loại cộng hưởng này mang tên cộng hưởng Harmonic (Tần số này là bội số của Tần số kia). Đó là cơ chế cộng hưởng Harmonic hình thái huyết thống.
Trở lại câu chuyện trên dòng sông Tô Lịch: Người viết cho rằng: Long mạch đã nói ở phần trên bị Cao Biền trấn yểm đúng Huyệt vị, đã bị ngăn chặn lại tại nơi có đạo Bùa chấn yểm. Hậu quả của đạo Bùa này làm cho Nguyên Khí không thể tiếp tục đi theo hành trình vốn có của nó, làm cho vùng đất dọc theo Long mạch sau khi bị chấn yểm trở nên cứng hơn, ổn định hơn. Bằng chứng là về sau này ta không còn nghe được sự việc sụt lở đất tương tự như thế nữa. Ta có thể hình dung hơi thô thiển là Long Mạch giống như một mạch máu, bị cột lại một đầu, không cho dẫn máu tới các vùng sau đó được nữa. Các bộ phận cơ thể đằng sau chỗ bị cột vì không có máu nuôi nên dần dần bị khô, teo đi. Ta cũng để ý một điều rằng :Thành phố Hà nội ngày nay có rất nhiều hồ nước con đang tồn tại như hồ Tây, hồ Gươm, hồ Bảy mẫu, hồ Ha Le… Mặt khác sông Tô Lịch và Thiên Phù dần dần bị hẹp đi và giờ đây chỉ còn là con mương nhỏ dẩn nước thải cho TP. HÀ NỘI. Ở đây có một câu hỏi thú vị là : Nếu như Cao Biền (vốn được coi là tổ sư của Phong Thủy) đã quyết tâm trấn yểm tiêu diệt dòng sông Tô Lịch thì sao cho đến tận bây giờ sông Tô Lịch vẫn còn tồn tại (mặc dù chỉ là con mương nhỏ). Theo người viết, nếu Cao Biền trấn yểm đúng thì ngày nay ta chỉ còn nghe đến tên của nó qua lịch sử. Đến đây người viết khẳng định: Cao Biền có sự sai lầm trong việc chấn yểm. Nguyên nhân sự sai lầm của Cao Biền chính là sự hiểu biết vô cùng chính xác của các vị Vua Hùng – Tổ tiên của người Việt chúng ta trong thuật Phong Thủy nói riêng và trong Thuyết Âm Dương, Ngũ Hành nói chung. Vì tiên đoán được các sự việc sẽ xẩy ra, sau khi mất nước, các Vua Hùng đã cố ý làm sai lạc một phần của Thuyết Âm Dương Ngũ Hành. Người viết xin chứng minh vấn đề này ở phần sau.
Bây giờ ta đi vào trả lời câu hỏi nguyên nhân của sự việc xẩy ra cho công nhân đội xây dựng số 12. Theo người viết như sau: Tại chỗ có đạo Bùa, Nguyên Khí bị bế lại lâu năm, khi tháo gỡ đạo Bùa, giống như tháo bỏ chỗ bị cột trong mạch máu, Nguyên khí bị thoát ra ngoài tại vị trí chấn yểm và lan tỏa ra xung quanh. Ta chưa xét đến sự tốt xấu của dòng Khí đó với cơ thể con người. Chỉ biết một điều rằng: Chính dòng Khí đó làm mất cân bằng cục bộ môi trường xung quanh chỗ đường Khí được giải phóng. Chính vì vậy những người Công nhân đang làm việc tại khu vực đó bị các hiện tượng kỳ lạ đã nêu ở phần đầu. Khi cơ thể con người bị mất cân bằng về Khí dẫn đến hiện tượng mất khả năng hoạt động Thần kinh. Như vậy cũng chẳng có gì khó hiểu khi các công nhân đội xây dựng só 12 gặp phải. Ngoài ra do ảnh hưởng của Quy luật “Đồng thanh tương ứng – Đồng Khí tương cầu”, hay là hiện tượng cộng hưởng Harmonic mà Thân nhân, dòng họ của những người công nhân đội xây dựng số 12 phạm phải , mặc dù họ không trực tiếp có mặt trên công trường. Đó là hiện tượng cũng dễ hiểu.
Có điều nguy cơ tiềm ẩn ở đây là: Nơi dòng Khí thoát ra sẽ ảnh hưởng như thế nào đối với TP. HÀ NỘI?. Đây là một vấn đề quan trong cần có sự nghiên cứu nghiêm túc.
2. Trả lời cho câu hỏi: Tại sao sau khi có sự chấn yểm của Cao biền,vùng đất dọc theo Long mạch kể từ chỗ bị trấn yểm trở nên cứng và ổn định hơn và từ đó về sau này ta không còn nghe có các vụ sụt lở đất ở khu vực dọc theo Long mạch tương tự nữa,ngoại trừ trường hợp đã xẩy ra trên sông Tô Lịch, khi đạo Bùa trấn yểm đã được nhổ lên?.
Tiếp tục phát triển tính nhất quán của phần trên: Khi đường Khí của Long mạch đã bị bế lại, nguyên Khí không thể tới được các vùng đất ở sau chỗ trấn yểm được nữa, và Nguyên Khí luôn có nước đi cùng nên lượng nước tới các vùng đó cũng bị giảm đi. Kết quả là vùng đất sau chỗ bị trấn yểm cứng lên, và kết cấu của Địa tầng, địa chất cũng trở nên ổn định hơn. Khi một vùng đất đã có địa tầng địa, chất ổn định thì tất yếu dẫn đến các vụ sụt lở đất khi xây dựng các công trình tự nhiên mất đi. Đó là một sự việc không có gì là bí ẩn trong nghệ thuật xây dựng hiện nay. Tại công trình nạo vét sông Tô Lịch, khi đạo Bùa chấn yểm bị nhổ lên, lập tức Nguyên khí bị phong tỏa ùa thoát ra ngoài với một tốc độ và lưu lượng vô cùng lớn, làm cho đất, đá của cả khu vực nhão ra như bùn, trở nên mất ổn định cục bộ. Ở đây ta cũng cần lưu ý rằng: Khi Nguyên khí thâm nhập vào lòng đất quá nhiều thì không chỉ đất, cát mà thậm chí cả đá hay các vật thể rắn khác đều trở thành bùn nhão, bởi tính chất của Nguyên khí khác với tính chất của nước. Ta cũng để ý rằng nơi nào mà nguyên khí ít ỏi hoặc không có vùng đó sẽ trở nên khô cằn, cây cối không thể phát triển được. Đó là trường hợp của các sa mạc, hoang mạc trên trái đất. Tại núi Ngự bình ở Huế cũng có trường hợp tương tự. Rất nhiều lần người ta tổ chức trồng cây trên núi Ngự bình song đều thất bại.
Như vậy, ta có thể kết luận rằng: Trong quá trình xây dựng Thành Đại la, Cao Biền gặp một vùng đất có kết cấu không ổn định nên đã thực hiên việc trấn yểm kể trên với mục đích làm cho đất cứng và ổn định hơn trước. Biện pháp thực hiện là dùng thủ pháp điểm huyệt đất tương tự như thủ thuật châm cứu, điểm huyệt trong đông Y. Ở đây còn có ý nghĩa sâu xa là trấn yểm các Long mạch, các huyệt phát Đế Vương của đất Việt. Tuy nhiên vì có sự sai lầm về độ số hướng Tây nên sự trấn yểm không được trọn vẹn. Bằng chứng là Sông Tô Lịch vẫn còn tồn tại và chỉ thời gian ngắn sau này nước Việt dã giành được độc lập. Một dải Long mạch đã nói ở trên vẫn phát sinh ra những con người nổi tiếng, những vùng đất địa linh nhân kiệt như chùa Dâu, núi Yên tử, Đền Kiếp Bạc… Một nguyên nhân nữa sau này, đã phá hoại sự linh thiêng của Long mạch là các việc san lấp của người Pháp, cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20. Không biết vô tình hay hữu ý, khi xây dựng TP. HÀ NỘI, người Pháp đã cho lấp mất khúc sông Tô Lịch, nơi đổ ra sông Hồng – Nay là các phố Hàng Buồm, Hàng Bạc, Cầu Gỗ… Và Nhà thờ lớn HÀ NỘI hiện nay đặt trên nền của Tháp Báo Ân ngày xưa…
Một dân tộc đã được thiên nhiên ưu đãi về Địa linh về Sinh khí phải suy nghĩ như thế nào về trách nhiệm bảo vệ và khai thác sức mạnh tâm sinh khí đó. Chúng ta cần phải có các chương trình đào tạo các bậc anh hùng, hào kiệt, những bậc hiền tài cho Đất nước, những vĩ nhân cho thế hệ mai sau. Ngày trước các bậc Thánh Đế, Minh Vương coi đó là trách nhiệm lớn nhất đối với non sông, đất nước.
Tôi xin tiếp tục lý giải câu hỏi thứ 3: Hậu quả của việc rút bỏ Đạo Bùa đối với khu vực dọc theo sông Tô lịch nói riêng và cả HÀ NỘI nói chung. Số phận của Long mạch sẽ như thế nào? Đây là một câu hỏi hết sức khó vì tính chất phức tạp của nó. Người viết xin mạo muội lý giải và rất mong được các bậc hiền tài trong và ngoài Diễn đàn góp ý, bổ khuyết hầu có thể tìm ra biện pháp tốt nhất khắc phục được hậu quả của Lịch sử. Tôi coi đây là trách nhiệm của tất cả mọi người chúng ta.
Trước hết, ta xem xét hậu quả của việc Trấn yểm của Cao biền và những sự việc sẽ xẩy ra khi rút bỏ đạo Bùa đối với khu vực sông Tô lịch và các vùng phụ cận. Hiện nay, tôi không có tài liệu nào chính thức về các biện pháp Trấn yểm đất của bộ môn Phong thủy. Chỉ biết rằng từ xa xưa đã có các hiện tượng trấn yểm của Mã viện (Trụ đồng Mã viện); các hiện tượng trấn yểm của Cao biền; các biện pháp dùng Bia đá để trấn yểm nhà, các tấm Bài ếm ở quanh khu vực Thất sơn (Cái ếm ở Bài Bài, thuộc làng Nhơn hưng -Tịnh biên -Châu đốc, cây ếm ở núi Nước)…
Để có thể hiểu rõ tính chất và hậu quả của việc trấn yểm, ta cần phải biết rõ lý thuyết trấn yểm và từ đó mới có thể khắc phục được tác hại của nó. Từ xưa, việc trấn yểm được coi là Thuật bí truyền của các thày Địa lý, không được tiết lộ ra ngoài, sợ lộ Thiên cơ. Do vậy mà lý thuyết về sự trấn yểm đến tận giờ phút này vẫn được coi là một cái gì đó huyền bí, ma thuật, không có tài liệu nào được truyền ra. Tuy nhiên theo nguyên lý Thiên -Địa -Nhân là một, ta có thể dùng Lý thuyết của Đông Y để tìm hiểu vấn đề này. Mặt khác, Thuyết Âm Dương, Ngũ hành với cơ sở là Hà đồ, Lạc thư là một công thức siêu Vũ trụ có thể lý giải tất cả các vấn đề từ Vi mô tới Vĩ mô, nó là Công thức Tổng quát của Vũ trụ mà khoa học ngày nay đang ao ước, tìm kiếm. Tôi sẽ xin trở lại vấn đề này khi có dịp. Bây giờ ta trở lại Lý thuyết của Đông Y về Kinh, Mạch, Huyệt, Lạc là một sự ứng dụng rất cụ thể và phong phú của Thuyết Âm Dương, Ngũ hành. Lý thuyết của Đông Y về Kinh, Mạch, Huyệt, Lạc rất phức tạp và có từ rất lâu đời, cuốn sách đầu tiên có thể là cuốn Hoàng đế nội kinh, có thời điểm khoảng 5000 năm. Tôi chỉ xin dẫn giải những gì cần thiết để chứng minh cho luận điểm của mình.
HỆ THỐNG KINH, MẠCH, HUYỆT, LẠC.
1/HUYỆT: Là nơi tập trung Khí huyết của Tạng phủ. Là nơi tập trung các cơ năng hoạt động của Tạng phủ. Mỗi Tạng phủ có các đường Kinh, Mạch, Lạc nằm ở những nơi cố định. Những Huyệt lớn gọi là Khổng Huyệt. Những Huyệt bình thường gọi là Huyệt. Kinh, Mạch, Huyệt, Lạc làm nhiệm vụ dẫn cơ năng Tạng phủ từ trên xuống dưới, từ ngoài vào trong, từ dưới lên trên, từ trong ra ngoài, trong toàn bộ cơ thể con người. Trong cơ thể có một mạch Nhâm, một mạch Đốc, 12 đường Kinh chính, cộng thành 14 Huyệt Kinh. có 365 đường Kinh Lạc và 666 đường Kỳ Huyệt. Hệ thống Kinh, Mạch, Huyệt, Lạc tiếp nhận Thiên khí, Địa khí, Thời khí, có tính chất Âm Dương Ngũ hành. Nhờ hệ thống trên, ta có thể tìm đến các chỗ đường Khí bị tắc mà đả thông cho thuận. Mỗi loại Bệnh tật đều có một số Huyệt liên quan để ta có thể kích thích khi có bệnh.
2/Kinh: Là các đường dẫn Khí từ Huyệt nọ tới Huyệt kia. Các đường đó đi lắt léo, chồng chất qua rất nhiều chỗ; liên đới với các đường Kinh khác theo tính chất Âm Dương, Ngũ hành, liên vận đến cả với Trời đất mà biến động sự sống, tinh thần con người, vì vậy mà gọi là Kinh.
3/Mạch: Nó là các Nguồn Mạch có Gốc chính đi ra. Nó đi khắp nơi, phân chia ra nhiều chỗ cần thiết, đến tận cùng của mọi nơi và sau lại trở về với chính Gốc.
4/Lạc: Nó là các đường của Kỳ huyệt, nhiều hơn Kinh, Mạch, nhỏ hơn nhiều. Nó đi ngang, tắt, chằng chịt, chi chít, khó tìm hơn. Nó giúp cho con người điều hòa Tâm sinh lý rất tốt, nó thường hay xuất hiện theo chu kỳ, dùng để định Tâm, an Lạc. Có lẽ vì vậy mà người ta dùng chử An lạc?
Các đường Kinh lại chia ra các đường Kinh nội và ngoại.
*Nội kinh là phần kinh của 14 đường Kinh, Mạch chính, quan hệ với Tạng phủ, chuyển dần sang các chi nhánh, Kinh Cân Âm và Kinh Cân Dương. Nội Kinh liên quan đến các tương quan, phản xạ, phát sinh Ngoại giao cảm, giữa Linh hồn, Vía, Phách và thể xác.
* Ngoại Kinh: Là những kỳ huyệt để bổ xung cho các Kinh chính, khi cần thiết dùng cho lúc nguy cấp. Ví dụ cụ thể như: có người đã bị chết lâm sàng, tiêm, chích thuốc theo Tây Y không được, nhưng dùng Đông Y có khi chỉ cần bấm, day, châm, cứu Huyệt thì bệnh nhân có thể sống lại được. Có rất nhiều kỳ Huyệt mà tùy trường hợp có thể hút Linh hồn của người mới chết, trở về nhập vào cơ thể. Ngoại Kinh bao gồm cả nội quan thân thể. Có nhiều Kỳ huyệt nhạy bén, rất công hiệu, có thể cứu mệnh con người, trong nhiều trường hợp nguy cấp. Đời thường từ xưa đã từng chữa bệnh cứu người bằng phương pháp này, song họ vẫn cho đó là Thần bí.
Tóm lại có 2 Mạch chính là Nhâm, Đốc; 12 đường Kinh chính, 15 đường Mạch Lạc, và vô số Huyệt.
Xin nói thêm về Huyệt: Có các Huyệt hợp và các huyệt Giao hội, đó là các giao hội với các Kinh Dương và âm. Có các loại Huyệt là Du huyệt, Mộ huyệt, Nguyên huyệt, Lạc huyệt, Khích huyệt…
Trong Võ thuật còn truyền lại các Huyệt Thần đạo Võ thuật. Theo người viết được biết: Có 36 Huyệt đạo Kinh, nếu vô tình hay hữu ý tác động vào thì bất cứ Huyệt nào trong số 36 Huyệt này đều có thể gây ra chết người. Các Huyệt đó rất nguy hiểm nên còn gọi là tử Huyệt. Ngoài ra còn có 72 Huyệt đạo Kinh phụ. Nếu tác động vào bất cứ Huyệt nào trong số những Huyệt này đều có thể gây tàn phế, tật nguyền, rất khó chữa trị. Đây là yếu hại Huyệt hay còn gọi là Nạn Kinh. Người viết chỉ sơ qua vài nét về Thần đạo Võ thuật cho dễ hiểu thêm về tầm quan trọng của Huyệt với Linh hồn và cơ thể con người. Khi tác động vào tử Huyệt, các yếu hại Huyệt chính là bất ngờ dùng lực phá hủy hệ thống Kinh, Mạch, làm tan rã các kết nối giữa Linh hồn và cơ thể con người. Các hệ thống khác như Kinh, Mạch, Huyệt, Lạc, gắn kết lục phủ, ngũ tạng của cơ thể lập tức bị rối loạn, mạnh thì dẫn đến tử vong, nhẹ thì dẫn đến tàn phế, tật nguyền, rất kho chữa trị. Thần đạo Võ thuật gọi là Huyệt đạo kinh có liên hệ đến các Luân xa.
Theo nguyên lý “Con người là tiểu Vũ trụ “thì Âm Dương, Ngũ hành được phản ánh trong Đông Y rất rõ rệt. Các đường Kinh thứ nhất: Can -Đởm, Tâm -Tiểu trường, Tỳ -Vị, Phế -Đại trường, Thận -Bàng quang là năm cặp đại diện cho Ngụ hành. Ngòai ra còn hai đường Kinh bổ xung là Kinh Tâm bào và Kinh Tam tiêu. Tổng cộng 12 Kinh gọi là đường Kinh chính. Hai đường Kinh Tâm bào và Tam tiêu không có thành phần riêng của mình nên phải lấy từ các thành phần khác làm thành phần của mình.
Mặt khác Kinh Tam tiêu được xem là Cha của các đường Kinh Dương, còn Kinh Tâm bào được xem là Mẹ của các đường Kinh Âm.
Kinh Tâm bào có nhiệm vụ đặc biệt là bảo vệ Kinh Tâm.
Kinh Tam tiêu có nhiệm vụ đặc biệt là làm sứ giả của Mệnh Môn Hỏa. Mang Mệnh Môn Hỏa đến các vùng Thượng tiêu, Trung tiêu, Hạ tiêu.
Các đường Kinh được chia ra làm hai nhánh: Nhánh trái thuộc Dương (đối ứng với Bán cầu não Phải), nhánh phải thuộc Âm (đối ứng với Bán cầu não trái).
Từ đó các Huyệt được chia ra: Huyệt phía trái thuộc Dương, Huyệt phía Phải thuộc Âm.
Từ Lý thuyết về Đông Y như trên ta theo nguyên lý Thiên -Địa -Nhân hợp nhất rút ra Lý thuyết trong Phong thủy áp dụng cho Long, mạch như sau:
Thuyết Phong thủy với cả hai phần Âm và Dương trạch quan niệm con người có quan hệ hữu cơ với Trời, Đất, cả khi sống và cả sau khi chết(Huyệt mộ có thể ảnh hưởng đến nhiều đời con cháu sau này).
1/Về Thiên: Chấp nhận có Sinh khí giáng xuống (gọi là Dương giáng) trên các đỉnh núi cao. Thừa nhận ảnh hưởng của các Vì Sao ảnh hưởng đến con người. Sự tương tác của các lực vũ trụ ảnh hưởng theo thời gian, với con người khác nhau. Ảnh hưởng theo chu kỳ của 9 hành tinh trong Hệ Mặt trời, được đại diện bởi Cửu tinh đồ xoay chuyển theo Quỹ đạo của HÀ ĐỒ (không như quan niệm của cổ văn chữ Hán từ trước đến nay là theo quỹ đạo LẠC THƯ -Khi có điều kiện người viết xin trở lại vấn đề này). Phải chăng 9 Sao và Hạn (La hầu, Thổ tú, Thủy diệu, Thái bạch, Thái dương, Vân hớn, Kế đô, Thái âm, Mộc đức và Tam kheo, Ngũ hộ, Thiên tinh, Toán tận, Thiên la, Địa võng, Diêm vương, Huỳnh tuyền)ảnh hưởng tuần hòan theo chu kỳ sinh học của con người là Đại lượng đo lường ảnh hưởng sự tương tác của 9 hành tinh trong Hệ Mặt trời đối với con người. Còn Cửu tinh đồ là đại lương đặc trưng của sự tương tác các hành tinh trong Hệ Mặt trời với từng cuộc đất.
Ngòai ra còn ảnh hưởng của hệ Nhị Thập Bát tú tới từng cuộc đất.
2/Về Địa: Chấp nhận có Sinh khí (Còn gọi là Long)chảy theo các mạch nước, tụ lại, và THĂNG lên (bởi lẽ Âm thăng, Dương giáng). Ta thử suy luận một chút về danh từ THĂNG LONG: Đó là khí Âm thăng lên -THĂNG LONG. ĐÂY MớI THỰC LÀ Ý NGHĨA CỦA DANH TỪ THĂNG LONG (chứ không như người ta đồn đại Vua Lý Công Uẩn thấy Rồng bay lên và đặt tên kinh đô là THĂNG LONG). Ta cũng nói thêm rằng Khí làm cho Kinh đô THĂNG LONG phát triển mạnh mẽ về sau này là Khí Âm -Địa khí.
3/Về Nhân: Có thể xác định được Âm phần, Dương phần, Họa, Phúc, Mệnh, Thân của từng cong người.
Bây giờ xin các bạn nhìn lên Bản đồ Việt nam phần Bắc bộ.
Các bạn hãy đánh dấu vào các địa danh sau: Trước hết là các dãy núi cao vút của các tỉnh Lai châu, Sơn la, Hòa bình, tới dãy Tam đảo, dọc theo sông Tô lịch ngày xưa, đi tiếp tới Cổ loa, kéo dài đến sông Đuống, sông Thái bình, ra tới Quảng ninh và chìm xuống Vịnh Hạ long. Ta nối tất cả các điểm trên thành một đường. Đường cong đó chính là nhánh Thanh long của đồng bằng Bắc bộ. Theo phân tích ở phần trên ta biết rằng Thanh long thuộc Dương. Đây cũng chính là một Long mạch có hành Khí Dương. Các Huyệt nằm trên nhánh Thanh long đều có hành khí Dương.
Bây giờ ta tiếp tục đánh dấu những địa danh sau: Xuất phát cũng từ những dặng núi cao chót vót của các tỉnh Lai châu, Sơn la, Hòa bình, đi tới dẵy núi Ba vì, qua cầu Hàm Rồng, theo sông Lam và dẵy núi Hồng lĩnh đổ ra biển. Nối các địa danh đó lại thì đường cong đó chính là nhánh Bạch Hổ của Đồng bằng Bắc bộ. Nhánh Bạch hổ thuộc Âm, do vậy Long mạch này có hành khí Âm. Các Huyệt nằm trên nhánh Bạch hổ đều có hành khí Âm.
Đến đây ta đã có thể hình dung được hai nhành Thanh long, Bạch hổ của Đồng bằng Bắc bộ. Nhánh Thanh long sau sự Trấn yểm của Cao biền và sau này là sự san ủi của người Pháp đã bị bế Khí rất nhiều. Tuy nhiên do sự sai lầm của Cao biền về độ số của cung Đoài nên sự trấn yểm đó không hoàn thiện. Theo các cổ thư chữ Hán, cung Đoài có độ số là 7 -ứng với phương Tây. Đây là độ số của Lạc thư. Chính vì vậy mà Cao biền mới Trấn yểm 7 cây cọc, theo đúng độ số của phương Tây. Tuy nhiên, theo hiểu biết của người viết và kết hợp với một số kinh nghiệm của một số tiền bối về Phong thủy ở vùng đất Phong châu ngày xưa (nay là tỉnh Phú thọ -Kinh đô của các Thời đại Hùng vương) thì độ số của phương Tây không phải là như vậy. Theo người viết, trong các vấn đề về Phong thủy thực hiện trên trái đất này phải dựa vào Hà đồ và độ số của Hậu thịên Bát quái mới chính xác. Khi đặt độ số của Hậu thiên Bát quái lên Hà đồ ta có một vòng tương sinh theo chiều thuận kim đồng hồ. Theo chiều từ phương Bắc, Đông Bắc, Đông, Đông nam,… tới Tây, tây bắc và trở lại về Bắc ta có các độ số như sau: 1-8-3-2-7-4-9-6.
Ta vẩn biết rằng: 1 -là hành Dương Thủy.
6 -Là hành Âm Thủy.
8 -Là hành Âm Mộc.
3 -là hành Dương Mộc.
2 -là hành âm Hỏa.
7 -là hành Dương Hỏa.
5 – là hành Dương Thổ.
10 -là hành Âm Thổ.
4 -là hành Âm Kim.
9 -là hành Dương Kim.

Theo chiều thuận kim đồng hồ ta có các hành tương sinh với nhau như sau: Thủy (6-1)sinh Mộc (8-3)sinh Hỏa (2-7)sinh Thổ (10-5)sinh Kim (4-9) và lại trở về hành Thủy. Tôi không đi sâu vào việc chứng minh Lý thuyết trên vì nó khác với tất cả các cổ văn chử Hán từ xưa cho đến tận ngày hôm nay. Điều quan trọng là nếu Cao biền ngày xưa biết được điều này, thì giờ đây có thể chúng ta chỉ còn nghe danh sông Tô lịch trong Huyền sử.
Trở lại vấn đề trên sông Tô lịch, sau khi Cao biền Trấn, yểm dòng sông cứ càng ngày càng nhỏ lại, kết hợp với sự san lấp của người Pháp sau này, dòng sông Tô, trước chảy ra sông Hồng ở cửa Hà khẩu, nay bị chặn lại từ khúc Thụy khê ra tới sông Hồng. Kể từ đó sông Tô lịch phải đổi dòng chẩy ngược lại. Hiện nay sông Tô lịch chỉ còn chẩy từ khu vực Phường NGHĨA ĐÔ -QUẬN CẦU GIẤY -HÀ NỘI, theo thuận dòng chẩy (Ta nhớ lại sự kiện trước Thành Luy lâu có dòng Nghịch thủy) chẩy ra sông Nhuệ và cuối cùng mới đổ ra lại sông Hồng. Như vậy hiện nay, dòng chẩy của sông Tô lịch đi theo nhánh Bạch hổ đã nêu trên (Thay vì chẩy theo nhánh Thanh long như ngày xa xưa). Nhánh Thanh long thuộc Dương khí, đã bị ngăn, bế phần lớn nên từ khi đó cho tới nay chỉ có rất ít anh hùng hào kiệt được sinh ra ở khu vực dọc theo đường đi của nó. Ngược lại, nhánh bạch hổ từ xưa cho đến nay ta chưa nghe có vụ trấn yểm nào được thực hiện, ngòai trường hợp cũng do Cao biền chê là vùng đất Thanh hóa, Nghệ an có một con rồng (Long mạch)nhưng bị què nên không tiến hành trấn yểm. Hai nhánh Thanh long và Bạch hổ có cùng nguồn xuất phát từ Tổ sơn, nay nhánh Thanh long bị chặn lại một phần lớn nên gần như toàn bộ Nguyên khí được dẫn theo đường nhánh Bạch hổ. Theo nhận xét của người viết, kể từ đó về sau này, Thành Đại la bị mất Dương khí nên chẳng bao lâu bị xóa bỏ và thay vào đó là Thành Thăng long được xây dựng dựa trên khí Âm của nhánh Bạch hổ. Ta cũng để ý thấy một điều rất rõ ràng rằng: Trải qua hơn một ngàn năm từ khi có sự Trấn yểm của Cao biền, các vị Vua, tướng tài giỏi, các bậc hiền tài của Đất nước đều có nguồn gốc từ các vùng đất thuộc nhánh Bạch hổ mà ra. Các bạn có thể kiểm chứng điều này qua Lịch sử.
Tới câu hỏi cuối cùng trong bài viết này, người viết tự nhận thấy vượt quá khả năng của mình nên rất mong đợi sự đóng góp của các Cao nhân, tiền bối trong và ngoài nước, ngõ hầu có thể cứu lấy một dòng Nguyên khí của Đất nước. Các câu hỏi đó là: Sau khi rút đạo Bùa Trấn yểm của Cao biền lên, Nguyên khí bị thoát ra sẽ ảnh hưởng như thế nào đối với Thủ đô HÀ NỘI nói riêng và Đất nước này nói chung? ??Có thể hàn lại Long mạch như Thượng tọa THÍCH VIÊN THÀNH đã làm không? Khi Long mạch đã được phục hồi sẽ xẩy ra hiện tượng gì tiếp theo? Có thể lại xẩy ra hiện tượng sụt lở đất như ngày xưa không?
Còn rất nhiều câu hỏi tiếp theo chủ đề này. Người viết xin tạm dừng ở đây và mong mỏi sự đóng góp của tất cả những người có lòng thương yêu Quê hương xứ sở, thương yêu Đất THĂNG LONG ngàn năm văn vật, là món quà có ý nghĩa mừng Sinh nhật 1000 năm THĂNG LONG -HÀ NỘI.
Trong bài viết, tôi có sử dụng một số Tài liệu của Gíáo sư NGUYỄN HOÀNG PHƯƠNG, ĐOÀN VĂN THÔNG, Ẩn sĩ PHƯỢNG -Nghệ an, Ẩn sĩ Lý Thiên Hương -Đức thọ Hà tĩnh và một số tài liệu của các Ẩn sĩ tỉnh PHÚ THỌ.
Tôi xin nêu thêm một vấn đề quan trọng có liên quan đến sự Trấn hoặc yểm sau này. Đó là hành Khí của khu vực bị Trấn yểm và độ số của nó. Theo nhận xét của riêng người viết, khu vực đó thuộc phía Tây của La thành nên có hành Khí là Dương kim và độ số của nó là 9. Như vậy ta cũng thấy rằng khi tiến hành trấn yểm, Cao biền cũng biết rất rõ điều đó, chỉ có sai lầm về độ số của phương Tây. Theo sách cổ chữ Hán đến tận ngày hôm nay, phương Tây thuộc Kim và có độ số theo Lạc thư là 7. Đó là sai lầm cơ bản của cổ thư chữ Hán và tất nhiên khi ứng dụng thì Cao biền sẽ sai theo. Theo người viết được biết, tại một số vùng của đất Phong châu ngày xưa, các nhà Phong thủy vẫn áp dụng tính độ số khi ứng dụng những việc cụ thể trong Phong thủy theo Hà dồ và số của Hậu thiên Bát quái. Như vậy theo người viết, phương Tây có hành Khí Dương Kim và độ số là 9 mới chính xác. Lạc thư và độ số Tiên thiên Bát quái chỉ áp dụng cho những vấn đề có tầm vóc Vĩ mô như khi tính toán các dải Ngân hà, Thiên hà, có tầm vóc Vũ trụ. Để có thể trấn được khu vực bị hở của Long mạch, theo thiển ý của người viết, nên dùng hình thức Trấn -Tức là đè lên vùng bị hở theo đúng quy luật Âm dương Ngũ hành. Ta có thể dựng một cây cầu Sắt có 9 nhịp hay 9 cột sắt, hoặc có cái gì đó có biểu tượng cho số 9 đè lên khu vực đã rút đạo Bùa. Theo những tin tức gần đây nhất, sự phát sinh các việc kỳ lạ như đã nêu ở trên, cũng chỉ gói gọn như những việc đã xẩy ra. Như vây ta thấy rằng Long mạch không còn thoát Khí ra nữa. Nguyên nhân là Khu vực đó qua thời gian bị phong tỏa, bế Khí quá lâu (Gần 1200 năm), luồng Nguyên khí đã có sự thay đổi, cũng không loại trừ đã có sự trấn, yểm lại của một số nhà Phong thủy tài ba giấu mặt. Tôi từng chứng kiến một vài lần khai mở những Huyệt đạo bị Trấn yểm của các nhà Phong thủy Việt nam ẩn danh. Ta cũng nhận thấy rằng (không biết có phải do trùng hợp hay không):Kể từ ngày đạo Bùa được Khai mở, vùng dọc theo nhánh Thanh long đã phát triển rất mạnh mẽ. Từ rất lâu đời, các vùng này là khu vực Nông thôn lạc hậu, nay đã vươn mình trở thành hàng loạt khu chế xuất hiện đại.
Một vấn đề quan trọng nữa được đặt ra cho các nhà Phong thủy là công trình Thủy điện Sơn la -Khu vực của đầu nhánh Thanh long. Sẽ như thế nào khi thực hiện xây dựng công trình Thủy điện này? Rất mong sự đóng góp của Quí vị.
Cảm ơn TG dienbatn.
Lý giải của chiase:
http://chiase.wordpress.com/2007/05/02/th%e1%bb%ad-ly-gi%e1%ba%a3i-truy%e1%bb%87n-thanh-v%e1%ba%adt-%e1%bb%9f-song-to-l%e1%bb%8bch/
“Vệt Nam sẽ dẫn đầu thế giới về họat động ngoại cảm và tâm linh. Đã đến lúc xuất hiện nhiều người Việt có năng lực đặc biệt” – một nhóm các nhà ngoại cảm thuộc TT Nghiên cứu tiềm năng con người đã nhất trí đưa ra một nhận định “ghê gớm” như vậy. Họ tin chắc vào khả năng dự báo của mình, cũng như đã tin câu sấm Trạng Trình từ hơn 500 năm trước:
“Hồng lam ngũ bách niên thiên hạ
Hưng tộ diên trường ức vạn xuân”.
Sau đây là cuộc trò chuyện cùng nhà khoa học Nguyễn Phúc Giác Hải – Chủ nhiệm bộ môn Thông tin – Dự báo, TT Nghiên cứu tiềm năng con người:
GIA CÁT LUỢNG, MEN ĐÊ LÊ ÉP ĐÊU BIẾT TIÊN TRI Đã có những cơ sở thực tiễn nào chứng minh khả năng dự báo tiên tri của con người, thưa ông? Từ xa xưa, người ta đã có rất nhiều dự báo cực kỳ chính xác như dự báo nhật, nguyệt thực; Gia Cát Lượng dự báo trước sương mù nên đã thành công kế thuyền cỏ mượn tên, dự báo trước có gió Đông Nam, nhờ đó thắng trận Xích Bích; Men đê lê ép đã dự báo trước sự tồn tại của các nguyên tố mà nhân loại chưa tìm ra; các nhà vật lý dự báo trước sự tồn tại của một số hạt cơ bản mà hàng ngàn năm sau người ta mới tìm thấy. Cuộc sống hôm nay, mỗi ngày chúng ta đều có dự báo. Thơi tiết, động đất, núi lửa. Có rất nhiều người có khả năng dự báo bằng linh cảm, chẳng hạn khi có một người thân mình qua đời, người đó cảm thấy bồn chồn, bất an. Sau vụ đắm tàu Titanic, người ta lục soát lại danh sách các hành khách đã mua vé thì thấy nhiều người đã đột ngột quyết đinh ở lại trước giờ khởi hành. Khi nhà chức trách đến hỏi, thì họ nói là trước đó họ mơ thấy tàu bị tai nạn, nên đã ở lại. Điều đó chứng tỏ các biến cố tương lai đã được phản ánh bằng một con đường nào đó vào hệ thống nhận thức của con người hiện tại khiến đôi lúc chúng ta biết trước tương lai. CHUYỆN CHÁU BÉ ĐỘT NHIÊN THÔNG THẠO TIÊNG ANH Theo nghiên cứu của ông có thể đánh giá gì về những khả năng tiềm ẩn của người Việt? Rất lớn! Tôi tin đất nước ta có rất nhiều con người đặc biệt như những câu chuyện nhiều người đã biết. Trường hợp cô gái bịt mắt đọc sách là sự phi thường mà thế giới chưa có. Thế giới chỉ có người bịt mắt lái xe một đoạn; người nhìn hào quang bằng con mắt thứ ba, còn việc bịt mắt mà đọc được sách thì không có.
Chúng tôi cũng vừa đi khảo sát một cháu bé mới 2 tuổi đã biết đọc và khi 11 tuổi, dù chưa học tiếng Anh tại trường lớp nào mà tự nhiên đọc vanh vách và dịch được tài liệu tiếng Anh. Khi xem các kênh như Discovery và một số kênh nước ngoài khác, cháu đều hiểu ngay và dịch lại ngay tại chỗ cho chúng tôi. Cháu cho biết khả năng ấy mới xuất hiện 2 tháng nay, mà bản thân cháu cũng không hiểu tại sao. Tôi đã báo cho chương trình “Chuyện lạ Việt Nam” Họ đã đến ghi hình và phát. sóng ngày 30/12/2006. Đất nước chúng ta còn có nhiều người có khả năng đặc biệt như thế.
Các nhà ngoạỉ cảm có dự báo gì về sự xuất hiện của những người tạm gọi là có “siêu năng lúc” như thế?
Ngay trước khi gặp cháu bé tự nhiên đọc được tiếng Anh, một số nhà ngoại cam đã dự báo cho tôi biết rằng, Việt Nam sẽ dẫn đầu thế giới về hoạt động ngoại cảm và tâm linh. Sẽ xuất hiện ngày càng nhiều những người có khả năng đặc biệt. Họ nói đã đến lúc.
Có một dự báo nào xuất hiện từ trước về điều này không, thưa ông? Cụ thể như thế thì chưa, nhưng nhiều nhà khoa học đã dự báo rằng thế kỷ 21 là thế kỷ của ngoại cảm và tâm linh. Chúng ta hãy nhớ lại, hơn 500 trước Sấm Trạng Trình đã dự báo rất đúng về đất nước ta như thế này: “Hồng lam ngũ bách niên thiên hạ Hưng tộ diên trường ức vạn xuân”. Nghĩa là:
“Đất Hồng Lam sau ta 500 năm (tức là từ năm 1991 trở đi. Vì Nguyễn Bình Khiêm sinh năm 1491) sẽ là thời kỳ hưng thịnh ức vạn mùa xuân”. Đúng là từ năm 1991 đến giờ (mấy năm sau khi mở cửa 1986), đất nước ta liên tục tăng trưởng cao và đang tiến tới thời kỳ hưng thịnh. Đất nước càng bay cao thì khả năng của mỗi con người càng được khai phá tốt.
SẼ “TẠO RA” NHIỀU NGUỜI PHI THƯỜNG, NẾU BIẾT RÕ CƠ CHẾ. Vậy chúng ta có thể áp dụng những tiềm năng to lớn này như thế nào vào việc phục vụ nhân sinh, đất nước? Phục vụ được rất nhiều chuyện: Ví dụ đầu tiên là cô gái nhìn bằng con mắt thứ ba. Sau một trận ốm, khả năng phi thường này được khai mở và ổn định 2 năm nay. Nếu bằng con đường nào đó chúng.ta biết cách kích thích trung tâm não, mở được con mắt thứ ba như cô gái thì rất có thể những người mù sẽ không bao giờ phải ở trong bóng tối nữa. Hoặc nếu chúng ta biết được cơ chế nào khiến cậu bé kia đột nhiên thông thạo tiếng Anh thì chúng ta có thể áp dụng cho mọi người nạp tri thức mới vào đầu nhanh như cắt. Rồi chúng ta đều biết, ngày càng có nhiều loại bệnh tật, nếu nhiều người biết cách luyện tập chữa bệnh bằng nhân điện và năng lượng sinh học, thì xã hội sẽ đỡ gánh nặng bệnh viện, thuốc men. Cuối cùng, chúng ta tìm ra được cơ chế giúp các nhà ngoại cảm có thể dự báo được một phần tương lai, thì chúng ta sẽ chủ động và thành công hơn rất nhiều trong cuộc sông, lao động và học tập.
Chiase: Dị nhân ở Việt Nam thì có rất nhiều nhưng siêu nhân thì chỉ có 3 thôi. Nếu quý vị dấn bước trên co đường tâm linh thì sẽ có cơ duyên gặp được “HỌ”.
Trước những thông tin về chuyện “thánh vật” ở sông Tô Lịch (Hà Nội) khiến cho dư luận nhân dân có phần hoang mang, lo lắng, phóng viên đã có cuộc trao đổi với nhà sử học Dương Trung Quốc, Tổng thư ký Hội Khoa học Lịch sử VN, người đã chủ trì cuộc tọa đàm chuyên môn về phát hiện khảo cổ học ở sông Tô Lịch cách nay ba, bốn năm.
![]() |
| Nhà sử học Dương Trung Quốc. |
- Thưa ông, gần đây có tờ báo kể những câu chuyện được gọi là “thánh vật” ở sông Tô Lịch khiến cho dư luận quan tâm một cách thái quá, thậm chí chuyền tay nhau đọc và bàn tán xôn xao. Ông có nghe thông tin này không và ông có suy nghĩ gì?
- Theo tôi, riêng cái việc dùng từ “thánh vật” trong bài báo cũng đã mang tính báo chí, chủ yếu để gây sự tò mò, thu hút nguời đọc.
Vụ việc này đã diễn ra cách đây mấy năm rồi. Tôi còn nhớ hồi đó báo chí đề cập một cách rất nghiêm túc.
Lúc đầu cũng có những ý kiến khác nhau, và sở dĩ có những ý kiến khác nhau đó mà tôi là người đã được báo Gia đình & Xã hội nhờ đứng ra tổ chức cuộc toạ đàm với sự tham gia của nhiều nhà chuyên môn để hy vọng giải thích sự việc một cách khoa học.
Đương nhiên vào thời điểm này chúng ta không còn ở thời kỳ chủ nghĩa vô thần thô mộc nữa. Chúng ta tin rằng có đời sống tâm linh.
Đời sống tâm linh ấy là một phần giá trị của đời sống thực, nó giúp cho đời sống thực tốt hơn bằng những nguyên lý mang tính đạo đức.
Tôi lấy thí dụ, “Ở hiền thì gặp lành”, “Ác giả ác báo” v.v… Tôi nhớ hồi còn nhỏ, khi đời sống tâm linh phong phú thì người ta sợ quỷ thần hai vai hơn là sợ ông cảnh binh đội sếp.
Thế nên đời sống tâm linh có mặt tích cực của nó. Nhưng cũng không đến mức chúng ta phải vận vào mình một cách không có cơ sở như thế.
Bởi vì, theo chỗ tôi được biết tác giả bài báo ấy là một người trong cuộc, người đã từng tham gia xây dựng tuyến kè ở sông Tô Lịch vào thời điểm ấy, rồi muốn thể hiện, giãi bày mình gặp rủi ro trong đời sống, trong kinh doanh dẫn đến phá sản và giải thích gắn với hiện tượng của khúc sông ấy.
|
Tôi là học trò của cố GS Trần Quốc Vượng. Thầy Vượng là nhà khảo cổ, việc thầy giữ một số hiện vật mà do những hoàn cảnh được luật pháp cho phép thì điều đó là rất bình thường. Trên thực tế không chỉ riêng thầy. Thế nhưng vận cái chuyện đó vào thầy và thầy mất sau đó là không có căn cứ vì có hồ sơ bệnh án khoa học. Như thế, trong chừng mực nào đó là xúc phạm đến người đã mất. Nhà sử học Dương Trung Quốc |
Về cá nhân tác giả bài báo ấy chắc cũng không có lỗi gì cả, họ nghĩ thế nào viết như thế, nhưng khi đưa tin không có lời giải thích khoa học, rõ ràng và đặc biệt trong đó người viết mang nặng cảm tính cho nên đã vượt ra khỏi khuôn khổ là những trải nghiệm cá nhân dẫn đến những suy luận mang tính xã hội, liên quan đến người khác. Bởi vậy điều đó là không bình thường.
- Cách đây khoảng 3-4 năm, sau khi đơn vị thi công tại đoạn sông sông Tô Lịch đó phát hiện được nhiều di vật, hiện vật, cơ quan chức năng đã vào cuộc và tiến hành khai quật “chữa cháy”. Lúc đó ông đã đứng ra chủ trì cuộc toạ đàm với sự góp mặt của các nhà chuyên môn để nhận định về sự phát hiện khảo cổ này. Khi đó các nhà chuyên môn đã nhận định ra sao, thưa ông?
- Tôi nhớ hồi đó giới chuyên môn cũng đã đưa ra nhiều hiện tượng về sự cố của đơn vị thi công.
Ngay sau khi phát hiện, những cơ quan có trách nhiệm của Hà Nội cũng đã vào cuộc như Bảo tàng, Sở VH-TT.
Tin rằng, bây giờ tìm lại hồ sơ đều có khá đầy đủ. Khi đó ai cũng thấy rất rõ và được giải thích rằng sự bất trắc của đơn vị thi công tại khu vực đó là bởi ở đây có thể xuất phát từ địa tầng không ổn định do nó nằm giữa nơi hội tụ của ba dòng sông.
Và có lẽ, chính điều đó khiến cho việc khảo sát thiết kế, xây dựng dự án xây dựng tuyến kè không sát với thực tế, dẫn đến thiệt thòi cho doanh nghiệp.
Điều này cũng được đề cập đến trong cuộc toạ đàm. Và nữa, vì là nơi hợp thuỷ của ba dòng sông nên trong quan niệm phong thuỷ cổ điển chắc cũng có yếu tố phong thuỷ.
Nếu quan sát hiện trường mặc dù chưa rõ ràng lắm nhưng cũng có người giả thiết rằng, những dấu vết còn lại cho thấy có một sự yểm nào đó.
Nếu có đi chăng nữa thì cũng rất bình thường trong kiến trúc cổ truyền của người xưa, và nhất là không loại trừ yếu tố của thời kỳ tiền Thăng Long, của thời nhà Đường chiếm đóng, thời Cao Biền.
Thế nhưng, vận nó vào giữa những yếu tố được giải thích dưới góc độ chuyên môn và hiện tượng xã hội gắn liền với vụ việc cụ thể thì tôi nghĩ rằng thiếu căn cứ.
Không ai có thể kết luận được rằng, vì cái vùng đất ấy mà dẫn đến hệ quả mang tính chất thuần tuý là cái sự trả giá về mặt tâm linh.
Còn đương nhiên, nó vẫn là những giả thuyết, chúng tôi tôn trọng những giả thuyết ấy nhưng hồi đó cũng đưa ra những căn cứ khác nhau để cho dư luận xã hội lựa chọn một nhận thức khả dĩ nhất. Sau đấy mọi chuyện cũng lắng dịu.
Việc này không phải không có sự chia sẻ với doanh nghiệp thi công ở đấy nhưng lúc đó không đến mức độ như hiện nay.
Tôi thấy rất nguy hiểm ở chỗ này: Sự trải nghiệm của cá nhân doanh nghiệp ấy chúng ta có thể chia sẻ nhưng sau đó vận vào cái chuyện thí dụ như một lời cầu khấn nào đó có thể mang lại tai họa cho người khác thì khó lòng chấp nhận.
- Trong loạt bài báo vừa rồi, tác giả đã đề cập mang tính ám chỉ chuyện GS Trần Quốc Vượng mất là cũng có liên quan đến việc này. Với tư cách là Tổng thư ký Hội KHLS Việt Nam, ông có ý kiến gì về chi tiết này?
- Việc sở hữu cổ vật hợp pháp, rất nhiều người và những nhà khảo cổ có uy tín như thầy Vượng thì chắc cũng có một số cổ vật do sưu tầm hoặc do người khác tặng để làm cơ sở nghiên cứu.
Rõ ràng đây không phải mục đích bất hợp pháp. Chuyện đó rất bình thường. Cái cổ vật thầy nhận vào thời điểm đó hoặc những cổ vật khác thì cũng như nhau.
Tôi nghĩ rằng vận vào việc thầy bị mất là điều vô căn cứ, phần nào đó đã xúc phạm đến thầy. Chúng ta đều biết, thầy Vượng mất đều có bệnh lý hẳn hoi, có cả một quá trình. Cho nên chuyện đó rất không nên đặt ra trên mặt báo.
Tôi xin nhắc lại là, những gì bản thân người viết bài báo ấy phải trải qua thì ta cũng có thể chia sẻ nhưng cũng không phải là chuyện đưa lên báo vào thời điểm này.
Còn vận vào những chuyện khác mang tính suy luận như thế tôi cho là không nên làm, tạo ra sự hoang mang trong đời sống, vì nó muốn khai thác mặt trái của tâm linh.
Như tôi nói, tâm linh có mặt tích cực để điều chỉnh đời sống xã hội. Còn điều này mang lại sự phân tâm, lo lắng không bình thường cho người dân.
- Là một người dân, khi nhận được những thông tin gọi là “thánh vật” như thế thì ông sẽ nghĩ ra sao?
- Tôi nghĩ, việc này các cơ quan chức năng sẽ thực hiện theo đúng quy định của pháp luật. Tuy nhiên, vấn đề này liên quan đến đời sống xã hội rất phức tạp, đa dạng cho nên cần thận trọng khi xử lý.
Điều quan trọng ở đây là vai trò của cơ quan báo chí, đó là mình cần chủ động điều chỉnh nó.
Tôi lấy ví dụ, trước đây cơ quan báo chí cũng đã phản ánh, thậm chí tổ chức toạ đàm mời các nhà khoa học đến, sau đó phản ánh trung thành với phát biểu.
Đó được xem như một biên bản, không đi đến kết luận. Và người dân dựa vào đấy để có những ứng xử hợp lý.
Vụ việc này diễn ra đã lâu rồi và bây giờ bất kỳ ai có thái độ nghiêm túc muốn đề cập đến thì cần tìm đến cơ quan chức năng để nghiên cứu lại hồ sơ.
Xin cám ơn ông!
Lâm Sơn (Văn Hóa)
Chắc là Ông Dương Trung Quốc chưa đọc bài này:
http://chiase.wordpress.com/2007/05/02/th%e1%bb%ad-ly-gi%e1%ba%a3i-truy%e1%bb%87n-thanh-v%e1%ba%adt-%e1%bb%9f-song-to-l%e1%bb%8bch/










