Lần theo giấc mơ tiên


LỜI NÓI ĐẦU
Kính gửi: Trung tâm Nghiên cứu tiềm năng con người Việt Nam 
Từ những giấc mơ trở thành hiện thực.Không phải một lần mà được lặp đi lặp lại hàng trăm lần.Không phải một mình mà cả nhà đều chứng nghiệm.
Đã 19 năm qua mà không sao tôi tự trả lời rốt ráo được.
Sau đây, tôi chỉ lược ghi một số mẩu chuyện trong hàng trăm chuyện lạ có thật mà bản thân đã chiêm nghiệm để gửi tới Trung tâm Nghiên cứu tiềm năng con người Việt Nam tham khảo.
Tên người, địa danh, sự kiện hãy còn nguyên tính thời sự.
Tập ghi chép gồm 3 phần:
1. Những giấc mơ Tiên
2. Trăn trở
3. Tìm câu trả lời.
Thưa các giáo sư, tiến sĩ, các nhà khoa học đang công tác tại Trung tâm Nghiên cứu tiềm năng con người Việt Nam.Tôi viết tập “Lần theo giấc mơ Tiên” này trong lúc thành quả khoa học nhân loại đang đạt được những kết quả không ngừng. Nhìn vào sự tiến bộ của khoa học nhân loại, đã có lúc tôi có ý định không gửi tập ghi chép này, bởi lẽ tôi e ngại “liệu các nhà khoa học có cho tôi bị bệnh tâm thần hay không?”. Nhưng tôi lại nghĩ: biết đâu những sự thực hiển nhiên mà tôi đã kiểm chứng lại là cơ sở để các nhà khoa học tiến xa hơn trong thành quả nghiên cứu của mình.Hơn nữa, là sự thực dẫu có phủ phàng vẫn là sự thực; tôi tin sự minh triết của trí huệ vô lậu ở các nhà khoa học là nguồn động viên tôi tập hợp một số mẩu chuyện thành một tập ghi chép với tiêu đề “Lần theo giấc mơ Tiên” để gửi tới Trung tâm Nghiên cứu tiềm năng con người Việt Nam.
Tôi phấn khởi được giáo sư Ngô Đức Vượng đồng tình.Rất mong nhận được câu trả lời của Trung tâm Nghiên cứu tiềm năng con người Việt Nam.
Ngày 5 tháng 9 năm 2005
Phùng Long Biên

1. Giấc mơ đầu tiên
Khác với mọi ngày, hôm nay tôi ăn cơm và đi ngủ sớm. Đêm đó tôi mơ thấy một vị Tiên Ông tay cầm cây gậy trúc, chân đi đôi guốc mộc, vận bồ quần áo đỏ thắm, râu tóc bạc phơ, tươi cười nói:
– Thìn khắc ngày mai, con hãy tới “Cây đa cháo lòng”, trong hốc cây giữa thân Ta giành cho con một điều lý thú!
Sáng ấy, tôi đi thành phố Vinh (tỉnh Nghệ An) để mua thêm một ít bột mầu, trên đường đi bỗng nhớ lại giấc mơ. Cần nói rõ, ở xã Hưng Chính – huyện Hưng Nguyên (nay thuộc thành phố Vinh), cạnh gốc cây đa cổ thụ có quán bán cháo lòng, nên người dân thường gọi là “Cây đa cháo lòng”. Đến nơi, tôi dựng xe và đi thẳng tới cây đa để tìm “hốc cây giữa thân”. Tôi thấy có một phong thư. Giở ra, thấy có sáu hàng chữ Nho viết bằng mực đỏ. Không đọc được, tôi định vứt bỏ, song lại nghĩ cứ bỏ vào túi. Trưa hôm đó, sau khi ăn cơm tôi ngồi uống nước tại vườn hoa Cửa Nam (thành phố Vinh). Đang nhấm nháp vị thơm ngon của chén trà Bắc Thái thì bất chợt có cụ già tới ngồi cạnh tôi và bảo:
– Con đưa bức thư ta xem!
Tôi ngơ ngác nhìn cụ, song vẫn ngoan ngoãn đặt chén trà xuống, rồi móc túi lấy bức thư. Cụ cầm luôn trên tay tôi, giở ra và cao giọng ngâm:
“Giáng sinh chữ Ký là tên
Họ Phùng, danh tính Long Biên định rồi.
Phải tin rằng có Phật Trời,
Mai ngày con hiểu Thiên thời viên thông.
Ta là Đại Đức Tiên Ông,
Sẽ dạy con hiểu Sắc – Không là gì!”.
Tôi tự vấn: sao cụ biết họ tên mình? Song, tôi vẫn chưa tin và nghĩ: Ông cụ biết tôi không hiểu chữ Hán mà đọc vậy…
2. Chứng nghiệm
Buổi tối, Đại Đức Tiên Ông lại về. Ngài bảo:
– Ngày mai có con cháu Cương Quốc Công Nguyễn Xí về nhờ con vẽ sơ đồ gia phả họ Nguyễn Đình, chi mười ba Thanh Hưng (huyện Thanh Chương – Nghệ An). Con cố thi công lập đức nghe!
Sáng dậy, tôi ra quán nhà mình trước ngõ thì đã thấy ba người khách lạ. Một người đứng dậy vui vẻ nói:
– Chào chú Phùng Long Biên! Anh em tôi có việc đến nhờ chú đây.
Tôi hỏi:
-Các bác là người họ Nguyễn Đình ở Thanh Hưng – Thanh Chương phải không?
– Vâng!
– Các bác nhờ tôi vẽ sơ đồ gia phả chi mười ba chứ gì?
– Đúng quá!
Cả ba người tỏ vẻ ngạc nhiên:
– Sao chú biết vậy?
– Có gì đâu, ông cụ Đại Đức Tiên Ông đã nói cho em biết tối hôm qua.
Họ ngơ ngác nhìn nhau…
Lần đầu tiên tôi đã chứng nghiệm giấc mơ.
3. Gia phả họ Phan
Đêm ấy, Đại Đức Tiên Ông bảo:
– Ngày mai, ông Phan Văn Tự ─ chủ tịch xã Hưng Đạo (huyện Hưng Nguyên – Nghệ An) ─ sẽ đến nhờ con viết cho họ Phan ba quyển gia phả. Con gắng thi công lập đức nghe!
Tôi vốn quen thân anh Tự đã lâu. Song, không hề biết anh ấy có ý định viết, vẽ gia phả.Sáng dậy, anh Phan Văn Tự đến thật. Anh vui vẻ nói:
– Họa sĩ giúp tôi một việc!
Tôi hoan hỷ “đoán”:
– Anh nhờ em làm cho họ Phan ba quyển gia phả chứ gì?
Anh Tự trố mắt nhìn tôi, hỏi lại:
– Họa sĩ học chiêm tinh từ bao giờ?
– Anh quá khen. Thú thực cùng anh, tối qua Đại Đức Tiên Ông đã cho em biết. Thôi, kế hoạch ra làm sao thì anh nói rõ yêu cầu cho em nghe.
– Chú Biên này, vừa rồi tôi đi Huế và Sài Gòn. Sau khi tập hợp gia phả ba vùng, hai chi họ Phan ở Huế và Sài Gòn giao cho tôi lập hoàn chỉnh gia phả, viết thành ba quyển. Tôi giữ lại một quyển, hai quyển nữa gửi đi Huế và Sài Gòn. Việc này nhờ họa sĩ mới xong.
Lần này, tôi tin hơn về giấc mơ.
4. Hợp đồng vẽ quảng cáo
Đêm đến, Đại Đức Tiên Ông lại bảo:
– Ngày mai có Nguyễn Văn Phúc, phụ trách thi đua của Liên đoàn địa chất 4 đến nhờ con vẽ quảng cáo. Liên đoàn mừng công Chính phủ tặng Huân chương Lao động hạng Ba. Thìn khắc, con ở nhà tiếp khách. Gắng làm tốt nghe con!
Đúng 8 giờ, có chiếc xe con đậu trước nhà. Hai người cao lớn đi vào, một người nói:
– Nhìn quảng cáo là biết chữ anh Biên ngay!
Vào nhà, qua trao đổi thì đúng là hai anh đến để hợp đồng vẽ tranh cổ động cho lễ đón nhận Huân chương Lao động hạng Ba do Chính phủ tặng thưởng Liên đoàn địa chất bốn.Sau khi thảo xong hợp đồng, cả ba cùng ký. Nhìn hợp đồng tôi thấy họ tên của hai người đó là:
1. Nguyễn Văn Phúc, phụ trách thi đua của Liên đoàn.
2. Phan Văn Cơ, trưởng phòng hành chính của Liên đoàn.
Tới lúc này, tôi tin là không có việc gì mà Đại Đức Tiên Ông lại không tường. Thật là vi diệu!
5. Chân dung lãnh tụ
Đêm ấy, Đại Đức Tiên Ông bảo:
– Con đóng 3 khung 80×120 cm để vẽ chân dung ba vị lãnh tụ là Các Mác, Ăng Ghen, Lê Nin bằng sơn dầu. Ba hôm nữa sẽ có ông Lộc, hiệu trưởng trường Đảng huyện Nam Đàn đến đặt hàng. Có thêm nữa đấy!
Ngủ dậy, tôi đi mua gỗ, vải, đinh để đóng khung và căng vải ngay. Buổi chiều, tôi dùng chì đã phác thảo xong ba chân dung. Hôm sau, tôi vẽ xong Lê Nin. Tiếp đến, tôi vẽ Ăng Ghen. Ngày thứ ba, tôi vẽ Các Mác.
Từ các năm 1984-1990, nhà tôi ở sát mặt đường tỉnh lộ 49 Vinh-Nam Đàn. Phòng vẽ của tôi được xây trên mặt ao, thoáng mát. Khi đi qua đường, ai cũng nhìn được. Ngay trước nhà lại có quán giải khát.
Đúng ba ngày sau, có một người khách ngồi giải khát nơi quán. Người đó nói vọng qua ao:
– Đã có khách đặt hàng chưa hay họa sĩ sáng tác vậy thôi?
Đang vẽ, tôi không quay lại, trả lời:
– Có khách rồi bác ạ!
– Khách nào vậy, họa sĩ?
– Bác Lộc ở trưởng Đảng huyện Nam Đàn!
Người khách đi thẳng vào phòng vẽ niềm nở:
– Mời họa sĩ nghỉ tay, uống nước!
Tôi dừng tay, ngâm bút vào lọ, đứng dậy:
– Chào bác!
Người khách dắt tay tôi ra quán, hai anh em hút thuốc và chuyện trò. Khách nói:
– Tôi là Lộc, hiệu trưởng trường Đảng huyện Nam Đàn đây!
Tôi nhìn bác Lộc chằm chằm. Thấy vậy, bác Lộc hỏi:
– Họa sĩ thấy tôi lạ lắm sao?
Tôi kể lại giấc mơ ba hôm trước đây cho bác Lộc nghe. Kể xong tôi hỏi:
– Trường ta có định vẽ chân dung lãnh tụ không đấy?
– Sáng nay, tôi đi ký hợp đồng vẽ đây!
– Ngoài chân dung ba vị lãnh tụ ra, còn định làm một số trang trí gì khác nữa phải không?
– Đúng! Làm câu khẩu hiệu “Chủ nghĩa Mác – Lê Nin vô địch muôn năm” để ngay dưới ba chân dung. Hai bên cánh gà là hai lời trích. Một bên là lời trích của Bác Hồ về đào tạo cán bộ Đảng, bên kia là lời trích Nghị quyết Ban bí thư về công tác tổ chức cán bộ.
– Thảo nào ông cụ nói “có thêm nữa đấy”.
Hàn huyên, tâm hợp ý đầu. Hôm đó, chúng tôi chính thức ký hợp đồng.Đến đây thì tôi không hoài nghi một chút nào về những giấc mơ Tiên nữa rồi. Từ đó, khi ngủ dậy tôi kể giấc mơ cho cả nhà nghe trước. Cứ ngày này đến ngày khác, hết tháng này sang tháng khác, hai năm 1986-1988 cả nhà tôi chiêm nghiệm chẳng hề sai.Rồi một hôm, Đại Đức Tiên Ông lại lái tôi đi theo một dạng mơ khác.

6. Nguyên nhân dẫn tôi đi
Tối ngày 13-2-1988, Đại Đức Tiên Ông lại bảo:
– Biên! Con nghe Ta truyền: Con phải đến thôn Đồng Bái, xã Hùng Sơn, huyện Lương Sơn, tỉnh Hoà Bình. Bề Trên sẽ dạy bảo. Con nghe rõ lệnh Ta chứ?
Nói xong, ông cụ chống gây ra đi.Như thường lệ, ngủ dậy ăn uống xong, tôi lại cầm bút vẽ. Sự say mê làm tôi quên lãng giấc mơ tối qua. Tối ngày 14-2, ông cụ lại về báo mộng cho tôi. Nội dung y nguyên như tối đầu. Ngủ dậy, tôi lại bắt tay vào việc (vì có quá nhiều bản hợp đồng còn đọng lại chưa vẽ xong), nên tôi quên giấc mơ.Tối rằm tháng 2 làm tôi nhớ mãi. Ông cụ lại về báo mộng. Nhìn vẻ mặt, ông cụ có vẻ giận tôi lắm. Ngài đứng đầu giường gọi tôi ngồi dậy và bảo:
– Đã hai lần Ta báo mộng, sao con cưỡng lệnh?Ta nhắc lại: Con phải đến thôn Đồng Bái, xã Hùng Sơn, huyện Lương Sơn, tỉnh Hoà Bình. Bề Trên sẽ dạy bảo!
Nói xong, ông cụ đi khoảng ba bốn bước, rồi ngoái đầu hỏi lại:
– Con nghe rõ lệnh Ta chứ?
– Dạ!
Tôi đáp “dạ” một tiếng thật to. Cả nhà nghe rõ và thức giấc. Nhà tôi thấy tôi đang ngồi chắp tay, hỏi:
– Ba chưa ngủ à? Sao dạ to vậy?
Tôi kể lại giấc mơ cho nhà tôi nghe. Dạng chuyện này cả nhà tôi không xa lạ gì và thực tiễn đã làm cho cả nhà chỉ biết tin. Nghe xong câu chuyện, vợ tôi nói:
– Ba phải đi rồi! Hoà Bình ở tận đâu?
Sáng dậy, tôi chuẩn bị hành trang ra Bắc.
7. Đi tìm thôn Đồng Bái
Đang chuẩn bị hành trang, vừa lúc chú Đặng Trung Ngọc, kiến trúc sư, trên đường về công sở ghé vào quán uống nước. Ngọc thấy tôi chuẩn bị ba lô thì hỏi:
– Anh đi đâu mà hành trang sẵn sàng như ra trận vậy?
– Mình đi Hoà Bình, Ngọc ạ! Chú chở bác xuống Vinh luôn nhé!
Tôi cùng Ngọc đi Vinh. Đến ga Vinh, tàu chuyển bánh, tôi không kịp mua vé, lên tàu luôn. Từ Vinh đi Thanh Hoá, tổ nhà tàu không hề soát vé tôi. Đến Thanh Hoá, khi tôi xuống ăn trưa thì gặp hoạ sĩ Lê Hàn, giám đốc xí nghiệp mỹ thuật Thanh Hoá. Hàn reo lên: – Cơn gió nào đưa bạn từ xứ Nghệ ra quê bà Triệu đấy? Vào chỗ mình chơi. Chị và các cháu nhắc cậu hoài…
– Cảm ơn anh! Để khi khác, hôm nay tôi đi Hoà Bình có tý việc.
– Thôi thì… chẳng mấy khi “Rồng đến nhà Tôm”, vào đây!
Anh dắt tay tôi vào quán. Chúng tôi ăn trưa xong cũng vừa lúc nhà tàu thay xong đầu máy. Chúng tôi chia tay mà còn bao điều bịn rịn. Từ Thanh Hoá đi Hà Nội, tổ nhà tàu khác lên thay tổ cũ. Cũng như tổ trước, chẳng ai hỏi vé tàu của tôi. Đến ga Hàng Cỏ ở Hà Nội, tôi xuống tàu ra cổng, người soát vé cũng bỏ qua tôi. Ra sân ga Hàng Cỏ, tôi gặp Nhuỹ và Từ Thành (sau này anh là hiệu trưởng trường Mỹ thuật Hà Nội). Hai người reo lên:
– Biên! Nghệ Tĩnh cử mày ra làm triển lãm phải không? Quà xứ Nghệ đâu?
Chúng tôi kéo nhau vào quán uống nước. Tôi nói cho Nhuỹ và Thành biết là đi Hoà Bình. Chúng tôi chia tay. Tôi tới bến xe Hà Đông. Khi đến nơi, chuyến xe sáng cuối cùng đi Lương Sơn vừa chạy. Tôi quay ra đường 6. Có chiếc ca-mát chạy rất nhanh đi Hoà Bình, tôi vẫy tay xin đi. Xe dừng lại cho tôi lên. Đến một chỗ thuộc địa phận Hoà Bình thì xe chết máy. Người phụ lái nhảy xuống hý hoáy sửa, nhưng xe vẫn không nổ máy được. Dường như sự bực dọc ấy đổ lên đầu tôi. Người phụ lái bảo tôi: “Anh xuống đi”. Rồi anh ta bế xốc tôi xuống. Tôi cảm ơn và xin gửi tiền đi xe, nhưng họ không lấy mà bảo:
– Biếu anh đấy!
Tôi thực sự lạc hướng trên đoạn đường. Đi tới chỗ đông người (sau này mới biết đó là chợ Lương Sơn), tôi hỏi bà bán trầu cau:
– Huyện Lương Sơn ở đâu, thưa cụ?
Người bán hàng trả lời:
– Ở đây!
– Xã Hồng Sơn ở đâu ạ?
– Cũng ở đây!
– Thôn Đồng Bái cách bao xa?
– Chính đây luôn! Chú hỏi ai ở thôn Đồng Bái?
Tôi ngơ ngác khi nghe bà cụ hỏi lại. Tôi kể giấc mơ cho bà cụ nghe. Bà bảo tôi:
– Chú đi theo cô này!Bà chỉ tay về phía cô gái cầm hương và trầu cau, gạn hỏi:
– Cô đi vào nhà bà Vân Tiên phải không?
Cô gái trả lời “Vâng!”.
– Cho chú đây theo vào với!
Tôi chưa hiểu ý, hỏi lại:
– Bà Vân như thế nào mà cháu phải vào?
– Hay chưa? Chú đến thôn Đồng Bái mà không biết đến ai, chẳng nhẽ về không sao? Có người bảo là bà Vân điên, có người bảo là bà Vân Tiên. Biết đâu chú nhận được lệnh Bề Trên từ đấy cũng nên!
Tôi vẫn phân vân, hỏi tiếp:Sao lại bảo Vân điên?
– Bà chửi khắp lượt loại cán bộ tham nhũng. Trải chiếu hoa ra giữa chợ ngồi, bà chửi mà lại chửi bằng thơ mới hay chứ! Bởi vậy, nên người ta gọi là bà điên.
– Thế còn Vân Tiên là ý làm sao?
– Bà chữa bệnh bằng hoa, bằng cỏ cây, nước lã mà được bệnh. Thôi, chú đi theo cô đây để tôi còn bán hàng!
– Tôi ngoan ngoãn chấp hành “lệnh” bà cụ bán trầu cau, theo người bạn đường không quen biết đến nhà bà Vân Tiên ở thôn Đồng Bái.
8. Tặng thơ – tặng quà
Tôi tới nhà lúc chủ, thợ dùng cơm trưa. Tôi chần chừ ngoài cổng nhìn đôi câu đối:
“Tổ tiên công đức muôn đời thịnh,
Con cháu thảo hiền vạn tết xuân”
và chữ “đo may”.
Từ trong nhà, một người phụ nữ dong dỏng cao, lanh lẽ đi ra ngoài cổng. Chị vận bộ quần áo màu mỡ gà đồng phục, hoa màu cánh sen. Búp sen đẫy đà chuẩn bị phô nhũy. Nước da trắng hồng làm đôi mày ngài nổi lên đen sắc. Chị cười vồn vã:
– Ta biết mà! Đức Tiên Ông, Người dẫn con Rồng Đen đến với Ta!.
Tôi không dối lòng mình, thật tình phút gặp ban đầu ấy làm cho tôi không tài nào chấp nhận các từ ngữ “con” và “Ta” được. Tôi không biết môn tử vi, song tôi sinh năm 1947, năm Đinh Hợi – tức cầm tinh Con Lợn. Vậy sao lại bảo con Rồng Đen?
Chị vồn vã mời tôi vào. Tới nhà, chị lại nói:
– Con ngồi xuống ăn cơm với Ta!
Nhìn qua bữa ăn của chị, tôi thấy đạm bạc vô cùng. Một bát Hải Dương canh rau ngót, ba lát đậu phụ, một thìa vừng lạc và vài lưng bát cơm. Các mâm cơm có bảy, tám người ngồi ăn. Già, trẻ, nam, nữ đều có. Mỗi mâm hai rá cơm to, một thau canh rau ngót, một bát vừng lạc. Họ vui vẻ mời tôi cùng ăn. Tôi từ chối:
– Cảm ơn chị! Tôi đã ăn rồi. Mời chị và bà con cứ tự nhiên!
Khi tôi nói đến từ “chị”, mọi đôi mắt đều đổ dồn về tôi. Gần như tất cả các đôi mắt ấy đều cùng một ý nghĩ: lo lắng, thương hại cho tôi! Nhìn vào các đôi mắt, tôi bất giác ngó lại mình xem có gì ăn mặc lôi thôi không? Nói năng có điều gì sàm sỡ không? Nghiêm túc mà nói là không có gì như vậy.Sao các đôi mắt lại lo lắng, thương hại cho tôi đến vậy? Là hoạ sĩ, bao giờ chúng tôi cũng phát hiện được nhiều điều trong đôi mắt. Ở đây không phải một, mà là trên sáu mươi đôi mắt, tôi đều đọc được trong đó sự lo lắng và thương hại. Tôi không nhầm. Chính do tự tin vào sự nhạy cảm nghề nghiệp mà tôi khẳng định như vậy.Thấy tôi từ chối dùng cơm trưa, chị đưa ấm trà và cái chén về phía tôi, giọng hồ hởi:
– Con không ăn cơm thì ngồi uống nước!
– Vâng! Cảm ơn chị.
Tôi lại đọc được lần nữa tình cảm từ các ánh mắt lúc nãy. Đó là sự lo lắng và thương hại. Tôi phát hiện ra: nguyên do là ngôn từ “chị” đây!Mọi người cơm nước xong, họ tuỳ nghi di tản. Người ra gốc mít, tốp tụm gốc dừa, tốp đi tắm, tốp đánh bài tú lơ khơ, tốp trải chiếu đầu hè nghỉ ngơi ít phút. Riêng tôi như con chim lạc bầy. Lúc này tôi thấy lẻ loi thực sự.Chiều đến, họ vào việc. Người nào việc nấy. Tôi thấy mình thừa trong nhịp độ lao động khẩn trương, vô tư và tự giác này. Tôi có dịp đi tham quan một vòng quanh nhà để giải khuây. Bụng nghĩ: thôi đành chịu phận chim lạc bầy, rán trú ngủ tối nay, ngày mai cáo lui sớm. Đó là kế thượng sách…
Tôi dừng chân nơi anh thợ cả tên Hùng. Anh dùng bay to, bay bé trổ xuyên hoa xi măng trang trí. Tôi dừng lại ngắm nhìn. Thấy anh thợ khéo tay, song bố cục các hoạ tiết chưa đạt. Tôi bèn vẽ lại cho anh. Nhưng anh thực lòng góp ý: Đường nét anh vẽ thì sắc đẹp, song kết cấu như vậy không đủ khả năng chịu lực.
Tôi nghĩ: ý kiến của anh thợ thật chân tình. Tôi vẽ lại và anh đồng ý. Chúng tôi trở thành đôi bạn học nghề nhau. Có bạn, anh lấy một ấm trà, hai cái chén và bó thuốc lá cuộn Lạng Sơn. Chúng tôi vừa làm vừa trà thuốc tâm đồng ý hợp. Tôi quý anh thực sự vì con người anh cởi mở, thật thà, và năng nổ làm việc. Lại nữa, anh chịu khó học nên biết nhiều nghề, tuổi đời tuy ít mà trường đời từng trải.Thấy chúng tôi thân nhau, chị Vân cũng lại ngồi xem. Anh thợ Hùng đi lấy thêm cái chén và rót nước mời chị Vân uống. Chị nói chuyện với Hùng. Tôi im lặng lắng nghe.Khoảng bốn giờ chiều, có hai chú bộ đội đi vào hỏi:
– Chị cho tôi hỏi đây có phải là nhà bà Vân không ạ?
– Ta là Vân đây! Con định hỏi gì?
Chị đang cầm chén nước uống giở trên tay. Hai chú bộ đội thấy chị còn trẻ đổi cách xưng hô:
-Báo cáo chị! Đời lính, chị chẳng lạ gì. Em bị bệnh kiết lỵ, muốn đến nhờ chị ít thuốc.
– Con quê ở đâu? Họ gì?
– Ở huyện Như Xuân, Thanh Hoá, họ Lê ạ!
– Con có biết ông Tứ đại không?
– Dạ, không!
– Tam đại là ông Lê Văn Hành phải không?
– Đúng ạ!
– Con uống nước với Ta!
Nói rồi, chị trao chén nước đang uống giở trên tay mời chú bộ đội. Chú từ chối (ý chừng như thấy chị đã uống một ít rồi):
– Cảm ơn chị, em không khát!
– Ta mời mà, con uống đi!
Thế không thể lui, chú bộ đội cầm chén nước nhấp một ngụm, đổ cặn, rồi trao chén lại. Chị cầm chén, rót nước, vừa uống vừa nói chuyện với anh thợ Hùng. Hai chú bộ đội chờ gần một giờ, ý chừng sốt ruột, vội nói:
– Xin chị làm ơn cho ít thuốc, đơn vị ở xa, sợ tối.
– Ta cho thuốc rồi đấy! Con về đi, ít hôm là khỏi. Con mua thẻ hương, đĩa trầu đến đây để Ta có lời với đức Tổ họ Lê cho!
Hai chú bộ đội nhìn nhau, vẻ ngạc nhiên. Tôi cũng ngạc nhiên thực sự khi nghe chị nói “Ta cho thuốc rồi đấy”.
Chị đọc được hoài nghi của chúng tôi, nên giải thích:
– Chén trà con uống là thuốc đó. Khỏi đấy. Con về kẻo tối, đi đường vất vả!
Thực tình, tôi không khỏi phân vân…
Tối đến, tôi ăn cơm chung với thợ. Thật vui. Chúng tôi ăn một cách ngon lành.Tối hôm ấy, chị tập trung tất cả già trẻ lại để kiểm điểm công việc trong ngày, bố trí kế hoạch cho ngày hôm sau và phát lộc. Chị trình bày mọi thứ bằng thơ. Tôi có cảm tưởng hình như chị không biết nói văn xuôi. Chị giống như một người từ thiên thể khác lạc vào Trái đất. Hành tinh mà chị ở chỉ quen nói với nhau bằng thơ?
Đến lượt phát lộc cho tôi, chị cầm hai quả nhãn trong tay và hát:
“Sơ sinh, chữ Ký là tên
Sáu tuổi, con đã thấy Tiên hiện hình
Lên chín, Rồng Đen gặp mình
Đừng tưởng Đinh Hợi giáng sinh, con ngờ
Long Biên – việc của Thiên Cơ
Long nhãn Mẹ tặng, từ giờ sổ ghi”.

9. Cảm nghĩ đầu tiên
Vì ba giấc mơ liên tục giục giã mà tôi đã đến thôn Đồng Bái. Là người làm công tác nghệ thuật chuyên nghiệp, tôi rất thận trọng trong nghi lễ ngoại giao. Chính vì vậy, tôi đã có mặc cảm phút đầu với người con gái nhìn qua trẻ tuổi hơn tôi nhiều, vậy mà lúc nào cũng gọi mọi người xung quanh bằng “con” và xưng “ta” như người dân tộc miền núi. Qua tối phát quà, bằng hai quả nhãn và sáu câu thơ chị ứng khẩu đã làm cho tôi sờ sợ. Tháng 2 năm Mậu Thìn (1988), tôi tròn 41 tuổi. Đúng 35 năm qua, hình ảnh cô Tiên mặc áo xanh bay trên không trung phía Tây nhà tôi, ngang ngọn cây bời lời đầu ngõ, vẫn đọng lại trong trí nhớ của mình. Lại nữa, năm lên chín tuổi tôi học lớp ba, một hôm theo chị đi cắt cỏ. Tôi đã gặp một trường hợp lạ: nghe tiếng lục lạc trong ruộng lúa, tôi ngờ có con chó con của ai đó chạy lạc (ở vùng quê tôi người ta hay đeo lục lạc vào cổ chó). Tôi chạy về phía có tiếng động, thì ra một con rắn đen to dài, trên đầu có mào như mào gà song to, sắc nhọn, dài và đen. Con rắn đi chầm chậm, đầu lắc lư phát ra tiếng như lục lạc. Tôi ngó nghiêng xem tiếng lục lạc phát ra từ điểm nào trên mình rắn. Tôi vẫn tưởng ai đó đã buộc cái lục lạc dưới cổ con rắn nên cố nhìn cho ra. Con rắn hiền đến lạ. Tôi đón đằng đầu, nó rẽ sang ngang. Đến đoạn có nước, nó chạy nhanh hơn và mất hút.
Mãi hơn chục năm sau, khi ngồi trong trường đại học, bản vẽ đầu tiên của tôi là ký họa về hai ký ức này. Càng ngày càng có kiến thức, tri thức học viện, tôi càng thắc thỏm day dứt trong bản thân mình.
Tôi sinh năm 1947, năm Đinh Hợi. Bố tôi đã đặt cho cái tên là Ký. Bạn đồng lứa hay đùa tôi là “Ký chợ Sơn” (số là ở chợ Sơn quê tôi có người tâm thần tên là Ký hay lật lá bánh mà người ta vứt bỏ để nhặt phần bánh còn dính lá).
Những kỷ niệm sâu kín trên đây chỉ mình tôi biết thôi. Tôi chưa bao giờ ghi thành văn vào nhật ký và cũng chưa bao giờ kể ra bằng lời. Vậy sao chị Vân lại đọc vanh vách cả ba điều sâu kín đó chính xác đến cả thời gian? Ở tôi đã hình thành cảm tưởng ban đầu sau khi tiếp xúc với chị: con người này ở thiên thể khác lạc xuống trái đất vậy. Hành tinh mà chị ở chắc đẹp lắm? Mọi người khi tiếp xúc nhau có lẽ chỉ dùng thơ? Tôi thấy chị dễ dàng bày tỏ suy nghĩ của mình bằng thơ suôn chảy, thuyết phục hơn cả các nhà hùng biện.
Từ ba điều bí mật của tôi bị phơi bày, cộng với ý nghĩ ban đầu về cái trí huệ, sở trường thi ca, tính tự tại phong độ, tôi linh cảm như chị có cái chìa khóa bí mật thần kỳ nào đó, nên đã mở toang các cánh cửa kín đáo tựa như “tôi đã biết rõ từ lâu rồi”, cho nên chị mới tự chủ tự tại đến như vậy.Vì thế, tôi không thể suy nghĩ tiếp được.Tối hôm đó, tôi thức trắng. Tôi nhớ lại quãng đường đi từ nhà đến thôn Đồng Bái dài khoảng 400 kim ấy. Tôi linh cảm như có một bàn tay vô hình đã bố trí các tình tiết chuyến đi của tôi một cách tinh tế, từ bi và lặng lẽ. Chính vì thế, tôi quyết định ở lại thêm vài ngày nữa để khảo sát thực hư: khẳng định hơn, có chứng cứ vững vàng hơn để chứng mình luận điểm hình thành ban đầu của mình; hoặc là chứng cứ nghịch hẳn với luận điểm đã có để bản thân khỏi phân vân về ba giấc mơ từ Đức Tiên Ông.
Tôi quyết định: nằm vùng khảo sát.
10. Hai ngày khảo sát
Tôi hiểu “khảo” là khảo cứu, còn “sát” – thị thực.
Tôi nghiêm túc và thầm lặng thực hiện mục đích đã định. Trong hai ngày đó tôi chỉ im lặng lắng nghe, nhìn và suy nghĩ.
Ngày 17 tháng 2 năm 1988
Sáng dậy, đang ăn cơm sáng thì ông già – thợ cả tổ mộc tâu:
– Thưa bà! Gỗ ta thừa mà hoá thiếu. Còn ba chiếc kẻ nữa, cần gỗ to hơn, xin bà cho mua để thợ kịp làm!
– Được rồi! Để Ta liệu.
Chị Vân trả lời vậy và tiếp tục ăn sáng. Tôi tuyệt nhiên không nghe bố trí ai đi mua gỗ. Tất cả mọi người đều vào việc. Tổ thợ nề xây, trát, đầm nền để chuẩn bị láng. Tổ mộc thì người sàm, người đục, người khắc, người bào, người rọc gỗ. Tổ cấp dưỡng cho người đi hái rau ở vườn, người giã lạc làm vừng, người nấu cơm, đun nước. Số còn lại là phụ nề, trộn hồ, xách nước, chuyển gạch v.v…
Riêng tôi ngồi hút thuốc lá, uống nước, quan sát.
Lúc chín giờ, có người đàn ông chừng 60 tuổi, ăn mặc giản dị, đi vào hỏi:
– Ai là chủ nhà? Tôi có ít gỗ, ta có cần dùng không, tôi bán!
– Gỗ để ở đâu? Gỗ gì hở bác? – Chị Vân hỏi.
– Ngay trước cửa. Tôi chẳng biết gỗ gì. Thợ xem chắc biết có làm được hay không!
Chị Vân gọi bác thợ cả:
-Bác ra xem số gỗ bác đây bán. Nếu làm được thì lấy tiền giả hộ.Bác thợ cả xem xong, quyết định lấy. Anh em thợ đổ xô ra chuyển gỗ vào nhà. Trước khi ông bán gỗ ra về, chị Vân còn lấy nải chuối biếu làm lộc cho các cháu.Công việc tiếp tục. Đến giờ cơm trưa, anh chủ thợ nề tên Hùng tâu:
– Thưa bà! Thép phi sáu làm cầu thang còn thiếu ạ.
– Thiếu nhiều không?
– Khoảng 10 kilôgam ạ.
– Được! Để Ta lo.
Nói rồi, mọi người lại tiếp tục ăn cơm. Lúc này tôi cũng ngồi chung mâm với cánh thợ. Chúng tôi ăn như ngày hội. Vì có sáu, bảy chục người nên lúc nào cũng vui, nhộn. Bỗng có chú bộ đội đi thẳng vào, trên lưng mang chiếc balô cóc khá nặng. Chú đặt balô xuống, hỏi:
– Tôi có ít sắt phi sáu, ta làm nhà có thiếu, tôi để lại!
– Khoảng bao nhiêu? – Anh Hùng nhanh nhảu hỏi.
– Tuỳ các anh!
Thấy thế, chị Vân hỏi lại:
– Chú có bao nhiêu kilôgam sắt?
– Khoảng hơn 10 kí.
– Bao nhiêu tiền một cân?
– Tuỳ chị.
– Chúng tôi mua sắt bốn tám – Anh Hùng trả lời.
– Vâng!
Sau đó anh Hùng cân được 11,8 kilôgam, kể cả balô. Chị Vân mời chú bộ đội ở lại ăn cơm, nhưng chú từ chối. Chị lấy nải chuối bỏ vào balô, bảo:
– Lộc Phật đó, chú không dùng cơm thì dùng quả vậy!
Chú bộ đội nhận tiền, rồi đi ra.Buổi chiều và tối hôm đó không có gì đặc biệt xảy ra.
Ngày 18 tháng 2 năm 1988
Sáng dậy, có bà cụ dìu một cô gái mặt tái xanh, tóc xoã rũ rượi như người điên, đi vào. Bà cụ thấy nhà đông người đi lại, ngần ngại hỏi trống không như tự vấn mình:
– Người ta chỉ nhà bà Vân Tiên ở đây cơ mà?
Chị Vân trong nhà đi ra, vui vẻ:
– Vâng, Vân Tiên đây! Bác có chuyện gì đó?
– Thưa!… (bà cụ ấp úng không biết xưng hô ra sao) Con tôi nó bị đau cả tuần nay, nổi u nổi cục lên giữa bụng. Rồi cục chạy lung tung. Người nhà khiêng nó xuống bệnh viện thì họ bảo u xơ, cần phải mổ. Nó sợ, đòi về. Các bà ngoài chợ Lương Sơn mách bảo tôi đưa cháu vào đây nhờ bà Vân chữa giúp.
– Dìu cô ấy vào ngồi tử tế, rồi bệnh gì hẵng hay!
Mấy cô gái giúp bà cụ dìu người bệnh vào nhà, đặt ngồi ghế sa lông. Tôi thấy chị Vân ngáp liên hồi, ngáp đến chục cái liên tục, nước mắt chị chảy ràn rụa. Rồi chị Vân bảo người nhà:
– Đi hái nạm ngải cứu và lấy ít muối!
Sau đó chị lấy tay nhồi ngải cứu với muối, miệng đọc như hát một bài gì đó (sau này tôi mới biết đó là bài chú Đà la ni). Tiếp đến, chị lấy bát nước lã trên tủ thờ trộn với ngải cứu, gạn lấy nửa bát nước xanh lè, trao cho cô bệnh nhân và nói:
– Uống đi là khỏi!
Sau khi người bệnh uống xong, chị Vân bảo người nhà dìu cô gái vào giường. Cô gái nằm rên la một lúc, rồi im lặng ngủ. Đến giờ cơm trưa, chị Vân cho gọi người bệnh dậy, hai mẹ con bà cụ cùng ăn cơm ngon lành với chúng tôi. Cơm nước xong, chị Vân bảo bà cụ đưa cô gái về:
– Thế là khỏi bệnh rồi đấy! Âm phần nặng lắm, nên làm siêu độ cho các hương linh nhà ta!
Chúng tôi nghỉ trưa. Tôi tham gia đánh cờ tướng trên nền giếng trước cổng. Chiều đến, công việc xây dựng vẫn tiến hành bình thường. Khoảng ba giờ chiều, có hai chú bộ đội đi vào, tay xách túi:
– Chào chị ạ!
– Chú họ Lê đến tạ lễ phải không?
– Dạ!
Khi hai chú bộ đội thú nhận, tôi mới kịp nhớ ra họ chính là những người đã tới hôm 16 tháng 2. Chú bị bệnh kiết lỵ thưa:
– Em sắm lễ theo lời chị dặn đến nhờ…
– Đã khỏi chưa?
Dạ! Từ hôm ở đây về không đau nữa. Em theo dõi thì thấy bình thường rồi ạ.Chị Vân bày trầu cau, hương, quả của hai chú bộ đội lên tủ lệch để bát hương, rồi chị dâng hương và hát một bài thật hay. Chờ một lát, chị hạ lễ, lấy nửa nải chuối đưa cho hai chú bộ đội và nói:
– Đây là lộc Phật, con về ăn cho khoẻ!
Hai chú bộ đội vui vẻ chào mọi người, ra về.Như vậy, sau hai ngày tôi đã chứng kiến bốn sự việc: thiếu gỗ và sắt – cầu được ước thấy; có hai bệnh nhân đến chữa bệnh – tuy hai cách chữa khác nhau, nhưng kết quả đều rõ rệt. Xuất phát từ đó, tôi nảy sinh ý định xin phép chị Vân đưa vợ mình đến đây chữa bệnh bướu cổ. Tôi quyết định trở về nhà. Từ trong sâu thẳm lòng tôi, một nỗi niềm kính tín nơi đây đã được hình thành.

11. Phép thử
Sáng ngày 19 tháng 2 năm Mậu Thìn (1988), tôi quyết định về nhà. Tối 18, tôi trăn trở, suy nghĩ qua một đêm. Việc tôi ra đi từ nhà xuống ga Vinh có người giúp. Từ Vinh đến Thanh Hóa có anh bạn Lê Hàn đón. Từ Thanh Hóa ra Hà Nội lại gặp hai bạn là Nhũy và Từ Thành. Từ Hà Đông về Lương Sơn đã được hai chú lái xe vui vẻ dẫn đến tận nơi. Suốt chặng đường dài ngót 400 kilômét ấy chưa phải dùng đến đồng tiền nào. Bởi vậy, tôi quyết định cúng dàng tất cả số tiền hiện có trong túi. Thực tế, các bạn tôi ở rải rác khắp cả nước, nếu gặp rắc rối tôi có thể nhờ họ đến cứu giúp. Tôi tự nhủ: “Đức Phật đại từ, đại bi tha thứ cho con! Thực tình, lúc đó con đã thử xem chị Vân là người thường hay là Tiên mượn thân Trần”. Tôi nói với chị Vân:
– Báo cáo chị, tôi ra đi quá đột ngột. Đến đây mới biết chị làm nhà, của ít lòng nhiều, xin chị cầm cho số tiền này để tôi yên dạ. Nói rồi, tôi trao cả 16 nghìn đồng gửi chị (đây là số tiền đáng kể vào thời bấy giờ). Chị nhất định không lấy. Tôi cố trình bày mãi chị mới chịu cầm. Chị nói:
– Vậy là đồng tiền cuối cùng trong người con đã giao Ta. Ta biết con định làm gì. Thôi được, phải vậy thì Ta nhận.
Được lời như cởi tấm lòng. Trao được 16 nghìn đồng vào tay chị Vân, tôi vội vã xách balô ra đi. Nhưng chị vội bảo “Khoan đã”. Rồi chị hỏi mấy cô cấp dưỡng:
– Lễ khao binh buổi sáng đâu?
– Dạ, có đây ạ!
Một cô gái bê lên mâm cháo hoa, trên mâm còn có bát nước lã, đĩa gạo và đĩa muối. Chị Vân thắp nguyên một búp hương, cắm ngay cạnh vườn cam, mâm cháo cũng để tại đó. Rồi chị hát một bài hay tuyệt, giọng lâm ly, trầm bỗng đến lạ kỳ. Nội dung bài hát thì dài, song tôi có nghe nói đến chư tướng, chư binh hộ trì cho tôi về quê an toàn. Hát xong, chị lấy nắm gạo, nắm muối vứt lung tung ra đất. Gạo, muối tung lên cả người tôi. Xong rồi, chị quả quyết:
– Con đi được rồi đấy! Con phải đến đây nữa mà!
Tôi đi ra đến đường 6 là có xe đi Hà Đông ngay. Xuống xe, họ chẳng lấy tiền. Tôi lên xe buýt về Hà Nội, họ cũng không lấy tiền. Đến ga Hàng Cỏ (Hà Nội), nhà ga thông báo: Chuyến tàu Hà Nội – Vinh được lệnh xuất phát. Tôi đi thẳng vào cổng ga mở ngỏ. Mấy nhân viên sợ tôi chậm tàu nên chẳng đón hỏi vé gì cả. Vừa lên bậc vào toa, tàu bắt đầu chuyển bánh. Tôi kiếm ghế ngồi ngủ một thôi. Đến ga Thường Tín, nhà tàu đi kiểm tra, họ vẫn để yên cho tôi ngủ. Đến Thanh Hóa, một đoàn 9-10 thương binh đi buôn thuốc lá mời tôi ăn cơm. Từ Thanh Hóa về Vinh, dù trên chuyến tàu mà tựa hồ như ở nhà mình vậy. Đến Vinh, khi xuống tàu ra cổng thì gặp cậu Minh đang ngồi trên xe máy, nó đưa tôi vào tiệm ăn dùng bữa, rồi chở tôi về tận nhà.Tám giờ sáng ngày 20 tháng 2 năm Mậu Thìn (1988), tôi có mặt tại nhà riêng ở Thái Lão (huyện Hưng Nguyên, Nghệ An).
Sau chuyến đi này, tôi suy nghĩ nhiều lắm. Khi đi, tôi không sử dụng đến tiền là do tình cờ gặp may. Nhưng khi về, tôi đã chủ động thử: dù không có đồng tiền nào dính túi cũng chẳng hề gì!Rõ ràng là Đức Phật từ bi đến im lặng. Ai tin cũng im lặng. Ai báng bổ cũng im lặng.Chuyến đi này là nhân duyên tạo tác cho các chuyến đi sau này của tôi.
12. Xin thuốc… vào tù
Mãi đến bây giờ, tôi mới thấm thía và hiểu hết ý nghĩa sâu sắc sáu câu thơ mà bà Bạch Ngọc Hoa tặng:
“Gà què ăn quẩn cối xay,
Có đi mới hiểu cái hay ở tù.
Bỏ huyền còn có chữ tu
Cũng như xua đám mây mù chưa tan.
Bao giờ Trời rọi nắng vàng,
Sẽ nhìn thấy cảnh Đông tàn, sang Xuân”.
Cũng xin nói thêm: kể từ ngày 20 tháng 2 năm Mậu Thìn (1988), tôi bắt đầu gọi chị Vân bằng bà Bạch Ngọc Hoa như mọi người thường tôn kính.Từ đó về sau, bao giờ tôi cũng để tâm suy nghĩ những điều mắt thấy tai nghe. Tôi nhất tâm tin tưởng rằng, bà Bạch Ngọc Hoa sẽ chữa khỏi bệnh bướu cổ của vợ tôi. Song trong mình lại canh cánh nỗi âu lo: “Liệu việc đưa vợ ra nhờ chữa bệnh như vậy mình có lạm dụng lòng từ ái của Đức Phật hay không? Mình đã làm được điều gì đâu mà nương nhờ?” Tuy nghĩ vậy, song bệnh tình của vợ tôi ngày một nặng hơn. Tôi quyết định đi Bạch Long Thiên để xin ý kiến của bà Bạch Ngọc Hoa.Tôi ra đến nơi, thấy một chiếc xe ca đậu ngay trước cửa chùa. Mọi người đang chuẩn bị đi hội chùa Phù Đổng. Bà Bạch Ngọc Hoa cho phép tôi cùng đi với đoàn. Tôi mang theo chiếc máy ảnh trong chuyến đi này nhằm mục đích ghi lại những điều kỳ diệu để khẳng định niềm tin cho vợ.Đó là chuyến đi vào ngày 8 tháng 4 năm Mậu Thìn.Tôi được bà Bạch Ngọc Hoa đồng ý chữa bệnh cho vợ. Tôi lại quay về để đưa vợ ra Hòa Bình chữa bệnh. Nhưng vợ chồng tôi suy đi tính lại: nếu cả hai người cùng đi thì bốn cháu nhỏ không có ai trông. Cuối cùng quyết định, chỉ mình tôi trở ra xin thuốc. Tôi lại lên đường. Khi đi, tôi cầm theo bộ bút vẽ. Đến nơi, chùa Bạch Long Thiên đã hoàn thành. Tôi bắt tay vào trang trí. Ngày thứ ba có người về, tôi xin bà Bạch Ngọc Hoa thuốc gửi về cho vợ. Bà lấy tờ giấy trắng học trò, cắt ra thành tám phần bằng nhau. Rồi bà lấy ra ba miếng đánh số 1, 2, 3 và lấy từng tờ một, áp vào trong lòng bàn tay mình chín lần, miệng niệm chín lượt: “Nam mô tầm thanh cứu khổ cứu nạn Linh cảm Bạch y Quan thế âm Bồ tát”. Sau khi làm như vậy cho cả ba tờ, bà đưa cho tôi và dặn:
– Mỗi lần mỗi thang theo thứ tự. Đốt cháy vào chén nước lã trên bàn thờ, rồi uống.
Tôi viết thư dặn vợ tỷ mỷ, nhất nhất y lời mà làm theo.Tôi ở lại trang trí Bạch Long Thiên xong thì bị Công an huyện Lương Sơn (tỉnh Hòa Bình) bắt giữ hai tháng ba ngày. Sau 63 ngày ở tù, tôi về nhà thấy vợ đã khỏi bệnh.
Tôi lý thú nghe vợ kể lại diễn biến khi uống ba thang thuốc Thần bạch y. Nghĩ lại sáu câu thơ mà bà Ngọc Hoa tặng tôi trước lúc vào tù càng thấy thấm thía nhường nào!

13. Tại Công an huyện Lương Sơn
Hôm đó, Công an huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình đến Bạch Long Thiên bắt ba người gồm bà Bạch Ngọc Hoa, bác Lê Thiệu Bảo và tôi. Tôi đã khai đi khai lại về những giấc mơ Tiên đến chục lần, và có lẽ hiện nay vẫn còn lưu tại Công an huyện Lương Sơn – Hòa Bình.Từ đó đến nay và mãi sau này, tôi không những không có chút bực dọc về những gì đã xảy ra ở đó, trái lại tôi thầm cảm ơn họ. Thứ nhất, tôi sẵn sàng đón nhận tù đày kiểu này như một món quà:
“Gà què ăn quẫn cối xay,
Có đi mới hiểu cái hay ở tù.
Bỏ huyền còn có chữ tu…”

Là người đã được chứng nghiệm các giấc mơ Tiên, tôi tin tưởng tuyệt đối và đi tìm điều bí ẩn của hư vô trong lúc có chủ trương bài trừ mê tín dị đoan. Thứ nữa, Cũng nhờ hơn hai tháng tù này mà tôi càng tin lời Đại Đức Tiên Ông hơn. Số là, do thương binh nên Công an huyện Lương Sơn không giam tôi như đối với bà Ngọc Hoa và bác Bảo. Họ nhốt tôi vào ba gian thênh thang của hội trường. Đêm xuống, tôi được xem hình ảnh các chư vị tâm linh hiện trên tường vôi trắng như xem màn ảnh rộng. Tôi nhận được rành rõ chân dung, hình tướng từng vị: Đức Phật A Di Đà, Đức Phật Thích Ca, Ngài Quán Thế Âm, Đức Dược Sư Lưu Ly, Đại Đức Tiên Ông, Vua Cha Ngọc Hoàng, Đức Nam Tào Bắc Đẩu, Bà Hoàng Lan, Bà Ngụ Phương, Đức Bát Hải Long Vương… Tôi nhìn thấy dung nhan và trang phục của các vị đó, tôi biết được thông tin các Ngài ở cõi nào và làm gì, cần việc gì thì vời ai và mời ra sao…
Nếu không được tĩnh tâm hơn sáu mươi ngày ở tù lần thứ nhất thì tôi không có duyên lành trải qua đợt “tập huấn” đó. Vào đêm cuối cùng ở hội trường, Đức Tiên Ông lại về tâm sự:
– Con có giận Ta không?
– Thưa! Không ạ!
– Vậy thì hãy còn 9 ngày tù nữa nhé!
– Tại sao lại còn 9 ngày nữa ạ?
– Cho đủ 72 ngày, chứ con!
– Sao lại 72 ngày mà không phải là 80 hay 90 ngày ạ?
– Con có nhớ chuyện Tôn Ngộ Không không?
– Dạ! Con nhớ ạ!
– Đó! Bảy hai phép thần thông biến hóa mà con. Sau này con sẽ hiểu trận đồ bát quái… Chín ngày còn lại sẽ được chia thành hai đợt đấy!
Tôi nghe vậy và tin chuyện sẽ xảy ra. Tôi không lo và cũng chẳng cầu mong. Thử hỏi, sự vi diệu ấy ở chốn trần gian này mấy ai có được? Làm sao mà tôi không tin?
14. Hàn huyên sau 63 ngày
Về đến nhà, vợ con tôi tỏ ra hân hoan.Điều vui mừng nhất là vợ tôi, Nguyễn Thị Quang khỏi bệnh ─ cục bướu ở cổ đã tiêu tan. Nhà tôi kể lại những điều kỳ diệu liên quan đến ba thang thuốc đó. Qua lời kể tôi cảm nhận được rằng, vợ tôi biết ơn Đức Phật lắm. Nhà tôi nói:
– Ba bảo ta nên tạ ơn Đức Phật thế nào cho xứng?
– Thiếu gì lúc, cái tâm mới là điều chính!
Vào năm 1990, bà Bạch Ngọc Hoa giao cho tôi xây chùa Tiên Cảnh ở Cửa Hội. Lần đầu tiên tôi gặp việc này. Tôi hỏi bà:
– Tiền đâu, thưa bà?
Chỉ tay về dãy núi Hồng Lĩnh, bà Ngọc Hoa nói:
– Tiền trên núi ấy! Ta sẽ cho người chở thuốc về, con sẽ chữa bệnh để lấy tiền mà xây chùa!
Thực tình, tôi không biết gì về chữa bệnh. Song, tôi tin các chư vị sẽ giúp. Bà Ngọc Hoa đưa cho tôi 180.000 đồng và dặn:
– Ta thi cùng con 70 ngày: Con xây chùa Tiên Cảnh, còn Ta xây bể nước Chùa Hương, xem ai nhanh hơn?
Bà Ngọc Hoa còn dặn thêm:
– Khi thiếu tiền, thiếu gạo thì xin bà Hoàng Lan, bà Ngụ Phương điều cho; nếu thiếu cá cho thợ ăn thì viết sớ xin Bát Hải Long Vương, con nhé!
Tôi sực nhớ đến 63 ngày tại Công an huyện Lương Sơn – Hòa Bình. Tại đó, tôi đã được các chư vị chỉ dạy điều này. Tại sao bà Ngọc Hoa biết hết cả vậy?
Tôi y lời và sau đúng 68 ngày, tôi đã xây xong chùa Tiên Cảnh ─ ngôi chùa hai tầng, tám mái, diện tích sử dụng gần 120 mét vuông, chỉ thiếu 2 triệu đồng tiền công thợ. Biết vậy, vợ tôi bán ngôi nhà đang ở tại thị trấn Thái Lão (huyện Hưng Nguyên – Nghệ An) để cúng dường 2 triệu đồng tạ ơn Thánh Thần đã giúp chữa bệnh bướu cổ. Từ đó, vợ tôi thanh thản trong lòng vì đã có dịp báo ân cứu mạng.Trong 68 ngày xây chùa Tiên Cảnh, biết bao những chuyện diệu kỳ đã xảy ra. Riêng tôi, điều đáng chú ý hơn cả rút ra cho riêng mình là: Không điều gì mà Phật Thánh không làm được. Điều quan trọng hơn cả là ta làm sao để được các chư vị hộ trì.
15. Trả lại tiếng nói
Bác Nguyễn Hữu Miên quê ở xóm Bố Đức (xã Nam Hùng – Nam Đàn – Nghệ An) là cán bộ cao cấp trong quân đội. Vợ và con ở tại tỉnh Quảng Ninh. Bác Miên bị tai biến não liệt nửa người, không nói được, đã điều trị tại bệnh viện mà không khỏi. Vợ bác đến đền Cửa Ông thì nhận được tin từ Thánh Thần truyền dạy:
– Chồng con có lỗi với Tổ Cô, đưa về quê sám hối sẽ có người chữa khỏi! Tại Đà Nẵng, em ruột bác Miên là trung tá Nguyễn Hữu Chuyên cũng nhận được lời truyền bảo như chị dâu. Bởi vậy, bác Chuyên từ Đà Nẵng ra Quảng Ninh để bàn đưa anh về quê chữa bệnh. Hôm đó, bác Nguyễn Hữu Nhuận ở xã Nam Hùng (là em con chú) dẫn vợ bác Miên về nhà bác Đức tại thị trấn Nam Đàn. Đang chào hỏi thì tôi ngáp liên tục (biểu hiện khi có hồn ngoài tác động vào người). Tôi chỉ vợ bác Miên, nói:
– Chồng bác là tộc trưởng, nhà thờ thì cho người ngoài vào ở, long ngai bị bẻ gãy cổ. Bà Tổ Cô giận lắm!
Vợ bác Miên không tin là nhà thờ cho người ngoài vào ở và long ngai bị gãy cổ. Nhưng khi tới nhà thì tôi thấy tường sau của ngôi nhà thấp, bàn thờ đặt ngay trên sập đựng lúa, long ngai vì quá cao nên đã bị bẻ gập cổ để xuôi theo mái ngói. Hỏi ra mới biết bác Miên cho vợ chồng người em gái nhà và giúp hương khói thay anh (có lẽ gia đình em gái là “người ngoài” vì khác dòng họ). Như vậy, đã xác minh lời của Tổ Cô là đúng.Để giải quyết vấn đề, tôi có ý định mời Tổ Cô về trao đổi. Chọn nhà bác Nhuận lên hương đèn, rồi chúng tôi ngồi uống nước. Nhìn lên bàn thờ, tôi nói lớn:
– Thưa Tổ Cô họ Nguyễn Hữu! Con cháu Ngài là Nguyễn Hữu Miên đang bị bạo bệnh. Tổ Cô thương tình cho Nguyễn Hữu Miên khỏi bệnh. Tôi sẽ hướng dẫn con cháu Ngài thiết lập bàn thờ chu đáo và siêu độ cho các hương linh. Quay sang vợ chồng bác Nhuận và vợ bác Miên tôi hỏi:
– Tôi nguyện như vậy, các bác có đồng ý không? (Mục đích là chuyển ý của tôi thành quyết tâm của họ.)
Cả ba người đều đồng thanh nói “Đồng ý”.
Tôi quay về phía bàn thờ, nói tiếp:
– Con cháu Ngài đã hứa. Ngài đồng ý chữa bệnh cho Nguyễn Hữu Miên thì xin hãy hoá bát hương.
Tôi vừa dứt lời thì bát hương bùng cháy. Đến lúc này, con cháu Nguyễn Hữu mới cảm nhận được sự linh thiêng của Bà Tổ Cô.
Bằng đôi tay mình và bảy thang thuốc lá, tôi đã chữa cho bác Miên. Ba ngày sau, bác nói lại được câu đầu sau thời gian dài bị mất tiếng. Một tuần sau, bác đi được bảy bước sau thời gian bại liệt.Thực tế đã nói lên sự kỳ diệu.

16. Vào tu lần hai
(Giờ Thìn, ngày 23 tháng 3 năm 1991)
Nhà bác Phan Công Tính (còn gọi là bác Đức) ở gần cửa bệnh viện huyện Nam Đàn, Nghệ An. Người đến nhà bác Đức đông không kém đến bệnh viện. Tối hôm ấy, Đại Đức Tiên Ông lại về. Ngài bảo tôi:
– Ngày mai con vào tu lần hai. Đợt này sáu ngày, con nhé. Tu xong con sẽ về núi Hồng Lĩnh.
Ngủ dậy, tôi dặn hai vợ chồng bác Đức:
– Sáng nay, Công an huyện Nam Đàn sẽ đến bắt cháu đấy. Hai bác cứ để yên cho họ đưa đi và cũng đừng nói gì. Sáu hôm sau cháu lại về.
Tám giờ sáng ngày hôm đó, đúng là Công an huyện Nam Đàn đến bắt tôi. Tôi xin phép đi tắm trước khi đi, vì tôi biết chắc chắn sáu ngày sau mới được tắm. Họ đồng ý.Thấy Công an huyện dẫn tôi về đồn, tin lan khá nhanh. Tối hôm đó, Đài PT-TH Nam Đàn đưa tin trên sóng truyền hình nên khắp huyện đều biết. Ngày hôm sau, có nhiều người đến Công an Nam Đàn. Người thì đến xem “thầy lang lừa đảo”, người thì đến do quen biết, thương cảm; có người đến do tò mò và cũng có đông phật tử hay tin đến để động viên, an ủi tôi. Đặc biệt, những người đã được tôi cứu chữa cũng đến đấu tranh đòi thả tôi. Một số như người nhà bác Miên, vợ chồng Hằng Hợi thì đòi gặp bằng được Trưởng công an huyện để trình bày sự thực…
Công an huyện Nam Đàn giải thích:
– Bà con yên tâm! Mọi thứ đã có pháp luật. Nếu không có gì sai phạm thì chúng tôi sẽ cho ra.
Có người chân tình đã hỏi tôi:
-Đại Đức Tiên Ông đã báo cho biết trước 4-5 giờ, sao anh không bảo ai chở về nhà trước?
Tôi nói rõ sự thể:
– Đại Đức Tiên Ông báo trước cho là nhằm mục đích khỏi cảm thấy đột ngột. Chuyện gì đến, nó phải đến. Nếu không cần thiết vào tu thì Đức Ngài đã không bày ra việc này.
Mọi người đành phải ngậm ngùi im lặng.Ba ngày sau, Công an huyện Nam Đàn chuyển tôi về Công an huyện Nghi Lộc là nơi quê tôi.
Về xây Đại Hùng
Tại nhà chú Đường Như Phong, phường Hà Huy Tập, thành phố Vinh, cụ Phạm Ngũ tìm đến đưa cho bà Bạch Ngọc Hoa bức thư . Thư viết :
“ Kính gửi pháp danh Bạch Ngọc Hoa
Xã tôi có một ngôi chùa
Đô đài ngự sử sắc vua ban nhiều
Lòng dân ai cũng phải theo
Hiềm vì kinh tế đói nghèo khó khăn
Nay nhờ ai giáng cõi trần
Giúp dân cứu vạn trọn phần như xưa
Pháp , Mỹ ta đuổi, phải thua
Nghe lời bách dạu phụng thờ quê hương ”.
Bà Bạch Ngọc Hoa bảo :
– Ngài Bùi Cẩm Hồ đề nghị ta khôi phục chùa Đại Hùng. Chú nhận xây Đại Hùng nhé !
Tôi đồng ý và hỏi :
– Thời gian bao nhiêu ngày thưa bà .
– Bốn mươi ngày.
– Thể thức ra sao ạ ?
– Nằm trên núi thuốc mà còn lo thiếu tiền à ? Chữa bệnh thì chú xin thỉnh với Đại đức tiên ông. Cầu siêu, chú xin thỉnh với Địa tạng vương Bồ tát. Chỉ hai việc ấy chú tha hồ lấy tiền mà xây.
Đúng 40 ngày, chúng tôi hoàn thành nhà Hạ , chùa Đại Hùng bằng công sức cầu siêu và chữa bệnh .

Người về xây Đại Hùng ngày càng nhiều, người đến xin thuốc ngày một đông. Trong số đó có bệnh nhân Nguyễn Thị Hợi , sinh năm 1959, đội 5, xã Đạu Liêu, thị xã Hồng Lĩnh, Hà Tĩnh, cô Hợi nằm bệnh viện đã heets tiền, chồng phải bán cả con trâu đang cày để lấy tiền chạy chữa cho vợ, khi hết cả tiền đi viện mới lên chùa xin nhờ giúp. Đén nơi bác Phạm Ngũ nhận ra là đứa cháu. Tôi hỏi bác :
– Ta có ông bác chết thắt cổ vào ngày 14 tháng 7 phải không ?
Bấc Ngũ vái tôi và hỏi : Sao chú biết. Tôi hướng dẫn cho gia đình làm lễ cầu siêu cho hương hồn người chết . Khi làm lễ tôi xin hồn cởi meenhjchuwax bệnh cho cô Hợi, hồn đồng ý.
Sau đó tôi bốc cho cô Hợi 27 thang thuốc lá rừng Hòng Lĩnh, cô Hợi khỏi bệnh ung thư cổ chướng ..
Vào tu lần ba
Công việc bộn bề vì chùa thiêng, khách đến ngày càng đông . Hôm đó, thầy Vương Ngọc Đức và Đại Hùng, thầy bảo tôi :
-Cái núi Mồng Gà phía sau chùa hay lắm. Tối chú lên đó mà ngủ cho mát.
Ba đêm liền, tôi mang chiếu lên ngủ trên đỉnh núi. Cả ba đêm tôi được các vị tiên về dạy cho các bài thuốc chữa bệnh. Đêm cuối , Đại đức tiên ông về bảo: Con còn thiếu một lần tub a ngày nữa con nhé . Ông cụ lại dặn : Ngày mai con vào tu khóa ba nhé .
Sáng dậy , công an huyện Can Lộc đến bắt tôi , được cho nằm trên hội trường gác hai. Tôi lại được nhiều vị Phật, tiên về dạy . Tôi cứ trông cho chóng tối, đẻ được chiêm ngưỡng dung nhan của các vị , được nghe những lời dạy bảo…Thoáng một cái đã hết ba ngày, họ thả tôi về. Tôi hãy còn tiếc là đợt tu này thật quá ngắn . ( Hết phần I )
Phùng Long Biên

2 Comments »

  1. 1
    sea Says:

    những câu chuyện như câu chuyện của Bác Long Biên trên đây là những minh chứng vô cùng quan trọng cho sự vi diệu của Phật Pháp và cần phải được lưu truyền rộng rãi trong quần chúng hơn nữa !Cháu thật sự cảm ơn Bác đã cho đăng câu chuyện của riêng mình và cháu đang chờ đợi để đọc tiếp phần 2 câu chuyện của Bác!

  2. 2
    trang nhu Says:

    CHÁU MUỐN ĐỌC PHẦN TIẾP THEO Ở ĐÂU Ạ????


RSS Feed for this entry

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: